BÁO CÁO 101/BC-TP NGÀY 08/7/2011 CỦA PHÒNG TƯ PHÁP TP TAM KỲ VỀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT 49/NQ-TW VỀ CHIẾN LƯỢC CẢI CÁCH TƯ PHÁP ĐẾN NĂM 2020

             Thực hiện Công văn số 402/UBND-TCKH ngày 21 tháng 4 năm 2011 của UBND thành phố Tam Kỳ về giao nhiệm vụ theo dõi và tham mưu báo cáo tình hình và kết quả công tác kiểm tra thực hiện chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch của UBND thành phố. Nay, Phòng Tư pháp thành phố báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 như sau:

I. TÌNH HÌNH TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU, QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT 49/NQ-TW

Sau khi tiếp thu Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị, các cơ quan Tư pháp thành phố Tam Kỳ đã tham mưu Uỷ ban nhân dân thành phố  tổ chức Hội nghị quán triệt và triển khai thực hiện trên địa bàn thành phố. Trong đó nêu rõ mục đích, yêu cầu của việc thực hiện Nghị quyết nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm đối với việc thực hiện nhiệm vụ cải cách tư pháp trước yêu cầu, nhiệm vụ mới.

Những nội dung mà các cơ quan Tư pháp Tam Kỳ thực hiện theo Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị, gồm:

- Tổ chức, nghiên cứu quán triệt Nghị quyết 49 cho cán bộ, công chức trong các cơ quan Tư pháp.

- Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp thành phố Tam Kỳ vững về chuyên môn, giỏi về lý luận đáp ứng tốt nhu cầu nhiệm vụ của ngành.

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong cán bộ và nhân dân, không ngừng thay đổi hình thức tuyên truyền để mang lại hiệu quả cao.

- Nâng cao chất lượng: Công tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL của thành phố và của xã, phường; Công tác điều tra của cơ quan điều tra, truy tố của Viện Kiểm sát, xét xử của Tòa án và Thi hành án hình sự, dân sự của cơ quan Thi hành án.

- Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác, rút ngắn thời gian, thủ tục hành chính, đáp ứng tốt nhu cầu của người dân, doanh nghiệp.

          II. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

          1.  Việc kiện toàn tổ chức bộ máy, đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí cán bộ của ngành Tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 49

* Các cơ quan Tư pháp của thành phố trong 6 năm qua đã không ngừng được củng cố, kiện toàn bộ máy tổ chức, xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh; tăng cường quản lý cán bộ, bố trí luân chuyển, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ kịp thời và theo đúng quy trình, quy định của cấp trên. Các cơ quan tư pháp đã coi trọng việc đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ công chức trong từng ngành, đảm bảo cán bộ có đủ năng lực, phẩm chất chuyên môn nghiệp vụ để hoàn thành nhiệm vụ tư pháp trong giai đoạn hiện nay.

* Về số lượng cán bộ công chức của các cơ quan Tư pháp hiện nay là: 54 đồng chí, trong đó:

+ Ngành Tư pháp

- Phòng Tư pháp hiện nay có 5/6 đồng chí, trong đó 01 Trưởng phòng, 01 phó Trưởng phòng và 03 chuyên viên. Tất cả đều là công chức, có trình độ đại học Luật. Về lý luận chính trị: 02 cao cấp chính trị, 03 tương đương trung cấp; 05/05 có trình độ ngoại ngữ anh văn  B trở lên; 02/05 có chứng chỉ quản lý nhà nước và 01/05 có chứng chỉ quốc phòng an ninh. Độ tuổi trung bình là 32 tuổi.

- Về số lượng cán bộ Tư pháp – Hộ tịch xã, phường: Có 25 đồng chí/ 13 xã, phường, riêng xã Tam Thanh chỉ có 1 cán bộ. Cán bộ tư pháp xã phường đều qua trình độ sơ cấp chính trị, trình độ chuyên môn thì trung cấp Luật trở lên, nhiều cán bộ đã có trình độ đại học Luật hoặc đang trong quá trình theo học Đại học. Đội ngũ cán bộ công chức ngành Tư pháp từ thành phố đến xã, phường đa số là trẻ, trung bình khoảng 30 tuổi, có năng lực và tâm huyết với ngành.

+ Ngành Tòa án: Có 16 biên chế, trong đó 08 thẩm phán, 06 Thư ký, 02 cán bộ văn phòng. Toàn bộ thẩm phán và thư ký đều có trình độ Đại học Luật, trong đó có 01 cao học Luật. Về trình độ lý luận chính trị: 02 cao cấp, 02 trung cấp. Độ tuổi trung bình là 38 tuổi

+ Ngành kiểm sát: Có 11 biên chế, trong đó 02 đồng chí là kiểm sát viên cấp tỉnh, 07 đồng chí là kiểm sát viên cấp huyện. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ có 10 Đại học Luật, 01 trung cấp kế toán. Về trình độ lý luận chính trị: 03 cao cấp chính trị, 07 trung cấp chính trị. Độ tuổi trung bình là 37 tuổi.

+ Ngành Thi hành án:  Tổng biên chế hiện có 12, trong đó có 05 Chấp hành viên, 01 thư ký và 03 chuyên viên THA. Trình độ chuyên môn: 08 Đại học, 03 trung cấp. Trình độ chính trị: 01 Cử nhân, 08 trung cấp, 02 sơ cấp

* Nhìn chung, công tác đề bạt, bổ nhiệm, bố trí, đào tạo cán bộ trong các cơ quan Tư pháp được các cấp ủy Đảng và chính quyền quan tâm nên chất lượng cán bộ ngày càng được nâng cao, đáp ứng tốt nhu cầu công việc. Các chế độ chính sách đối với cán bộ được thực hiện kịp thời, đúng quy định.

2. Tình hình đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc và kinh phí hoạt động cho các cơ quan tư pháp

       Được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp nên việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho các cơ quan tư pháp trên địa bàn thành phố được thực hiện tốt. Như Viện kiểm sát, Tòa án, Thi hành án, đều có trụ sở làm việc khang trang đáp ứng được nhu cầu công việc; Phòng Tư pháp thành phố và Tư pháp xã phường có văn phòng làm việc chung với UBND thành phố và UBND xã, phường. Tuy nhiên, nhiệm vụ công tác ngày càng nhiều đòi hỏi về biên chế, kinh phí, không gian làm việc, các trang thiết bị ngày càng cao nên chính quyền cần quan tâm đầu tư tương xứng để ngành Tư pháp thực hiện tốt yêu cầu, nhiệm vụ.

 

           3. Về kết quả chuyên môn

3.1. Đối với ngành Tư pháp

a. Công tác phổ biến giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong cán bộ và nhân dân

  – Trong 06 năm thực hiện Nghị quyết 49, phòng đã tham mưu cho UBND thành phố tổ chức được 24 Hội nghị triển khai các văn bản luật, Pháp lệnh, Nghị định mới cho cán bộ chủ chốt của thành phố, xã, phường.

  – Cử báo cáo viên xuống và triển khai các văn bản luật mới, lồng ghép công tác tuyên truyền với các hoạt động trợ giúp pháp lý, các buổi sinh hoạt của chi hội phụ nữ, hội nông dân, đoàn thanh niên… tại các thôn, khối phố của xã, phường với 2045 buổi tuyên truyền (khoảng 100 lượt người tham dự/01 buổi). Phối hợp với Hội Liên hiệp phụ nữ thành phố tổ chức toạ đàm về phòng chống bạo lực gia đình ở 13 xã phường thuộc thành phố. Việc triển khai tuyên truyền bằng nhiều hình thức khác nhau như in tờ gấp, đề cương tuyên truyền, trang bị sách pháp luật, băng casset, tuyên truyền trên sóng phát thanh; tổ chức các cuộc thi, hội thi thu hút hàng nghìn lượt người tham gia, như: Cuộc thi tìm hiểu Bộ luật hình sự 1999, Luật Phòng chống ma túy, Luật giao thông đường bộ, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Luật Bầu cư đại biểu quốc hội và hội đồng nhân dân…Trong 06 năm qua, phòng đã tổ chức các hội thi: Hòa giải viên cơ sở giỏi, Hộ tịch viên giỏi, Chủ tịch UBND cấp xã với kiến thức pháp luật, Tuyên truyền viên pháp luật giỏi, Rung chuông vàng. Đồng thời phối hợp với cơ quan quân sự thành phố tổ chức Hội thi nhận thức về luật Dân quân tự vệ… Qua đó đã nâng cao kiến thức pháp luật trong cán bộ và nhân dân.

- Bên cạnh việc tuyên truyền qua các buổi hội nghị, hội thi thì trong năm 2011, Phòng cũng mạnh dạn áp dụng hình thức tuyên truyền mới thông qua phiên tòa giả định và tuyên truyền trên trang tin điện tử của phòng. Xây dựng và tổ chức ký kết kế hoạch liên tịch về phổ biến giáo dục pháp luật với phòng Giáo dục và Đào tạo; Đoàn TNCSHCM thành phố Tam Kỳ để phổ biến giáo dục pháp luật cho học sinh Tiểu học, Trung học cơ sở và đoàn viên thanh niên các cơ sở đoàn trên địa bàn thành phố.

          * Nhìn chung công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trong cán bộ và nhân dân theo Nghị quyết 49 đã có nhiều bước tiến và kết quả khả quan hơn so với trước đây. Nhiều hội nghị, hội thi, mô hình tuyên truyền hiệu quả đã ra đời như: Hội thi Rung chuông vàng, phiên tòa giả định…đã góp phần rất lớn trong việc đưa pháp luật vào cuộc sống, giúp cán bộ và nhân dân hiểu, thực hiện đúng quy định của pháp luật.

b. Công tác xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật

       – Trong 06 năm qua, phòng Tư pháp cũng đã góp ý hàng trăm văn bản QPPL của Trung ương cũng như địa phương, thẩm định tất cả các văn bản QPPL của thành phố trước khi ban hành, qua đó góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật ở trung ương cũng như địa phương.

       – Hằng năm, phòng Tư pháp đều tham mưu UBND thành phố xây dựng kế hoạch ban hành, kiểm tra, rà soát xử lý văn bản QPPL trên địa bàn thành phố; thường xuyên tiến hành tự kiểm tra và kiểm tra theo thẩm quyền các văn bản QPPL của thành phố và xã phường, qua đó đã phát hiện nhiều văn bản vi phạm pháp luật, không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội đã kiến nghị sửa đổi, bổ sung, thay thế.

          – Phòng cũng đã xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu văn bản QPPL của trung ương, tỉnh và thành phố tại trang tin điện tử của phòng, trong đó thể hiện rõ tình trạng hiệu lực của văn bản, đã tạo thuận lợi cho cán bộ và nhân dân tra cứu, áp dụng.

c. Công tác chứng thực, hộ tịch

- Chứng thực: Đã thực hiện việc chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch liên quan đến bất động sản thuộc thẩm quyền của UBND cấp huyện, xã cho các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện theo đúng Quyết định 12/2009/QĐ-UBND ngày 25/5/2009 của UBND tỉnh Quảng Nam. Việc thực hiện chứng thực bản sao đảm bảo quy định của pháp luật, đáp ứng tốt nhu cầu của người dân và doanh nghiệp.

- Hộ tịch: Nhằm rút ngắn thời gian và đảm bảo tính khoa học, chính xác trong việc cấp các giấy tờ hộ tịch cho công dân, năm 2010 Phòng Tư pháp đã tham mưu UBND thành phố trang bị phần mềm quản lý hộ tịch và máy tính cho Phòng Tư pháp và 13 xã, phường. Qua 1 năm thực hiện, hiệu quả công việc  nâng lên rõ rệt, đáp ứng kịp thời nhu cầu của nhân dân, được cán bộ và nhân dân đánh giá cao.

2. Đối với ngành Tòa án

Tổng số các loại án đã thu lý 2.306 vụ việc, giải quyết 2.210 vụ việc, đạt tỷ lệ 95,83%. Chất lượng giải quyết án: Bị hủy 12 vụ, chiếm tỷ lệ 0,54%, sửa 27 vụ, chiếm tỷ lệ 1,22%, trong đó:

a. Về án hình sự

Tổng số thụ lý là 532 vụ với 928 bị cáo, đã giải quyết 516 vụ, với 891 bị cáo, đạt tỷ lệ 96.99%. Chất lượng giải quyết án có kháng cáo, kháng nghị: hủy 03 vụ, với 03 bị cáo chiếm tỷ lệ 0,58%, án bị sửa 05 vụ, với 05 bị cáo chiếm tỷ lệ 0,96%.

b. Về án dân sự

Tổng số thụ lý là 944 vụ việc, giải quyết 900 vụ, đạt tỷ lệ 95,3%. Chất lượng giải quyết án có kháng cáo, kháng nghị: án bị hủy 07 vụ, chiếm tỷ lệ 0,7%, có 13 vụ bị sửa chiếm tỷ lệ 1,4%.

c. Về án hôn nhân và gia đình

Tổng số thụ lý 739 vụ việc, giải quyết 708 vụ việc, đạt tỷ lệ 95,8%. Chất lượng giải quyết án có kháng cáo, kháng nghị: bị hủy 01 vụ chiếm tỷ lệ 0,14%, án bị sửa 03 vụ, chiếm tỷ lệ 0,4%.

d. Về án kinh doanh thương mại, lao động, hành chính

Tổng số thụ lý 91 vụ việc, giải quyết 86 vụ việc, đạt tỷ lệ 95,5%. Chất lượng giải quyết án có kháng cáo, kháng nghị: bị hủy 01 vụ chiếm tỷ lệ 0,1%, án bị sửa 01 vụ, chiếm tỷ lệ 1,1%.

Nhìn chung trong 06 năm qua công tác xét xử của ngành Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ đã đạt và vượt mức chỉ tiêu thi đua ngành đề ra. Số án quá hạn luật định giảm qua từng năm. Trong khâu giải quyết án có nhiều giải pháp, cải tiến lề lối làm việc nên không để án tồn đọng lớn; cán bộ đã có sự đầu tư nghiên cứu, yêu cầu đương sự cung cấp đầy đủ chứng cứ để giải quyết, kiên trì hòa giải để các bên đi đến thỏa thuận thống nhất, tạo sự đoàn kết trong cộng đồng dân cư. Chất lượng giải quyết án và phiên tòa được nâng cao, số vụ án bị hủy, sửa do lỗi chủ quan của thẩm phấn đã giảm rõ rệt qua từng năm.

3. Đối với ngành kiểm sát

Trong những năm qua Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ đã nỗ lực tham gia vào quá trình cải cách tư pháp, đảm bảo tính khách quan, tuân thủ pháp luật trong hoạt động tố tụng, điều tra, xét xử, tránh bỏ lọt tội phạm, tránh oan sai. Đã truy tố 532 vụ với 928 bị cáo, tỷ lệ án trả hồ sơ điều tra bổ sung, án bị đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án do không chứng minh được hoặc do bị can không phạm tội năm sau luôn giảm hơn năm trước.

Trong công tác kiểm sát điều tra: Quản lý 100% các vụ án mới khởi tố; thực hiện kiểm sát viên bám án ngay từ giai đoạn đầu, khắc phục việc khởi tố bắt giam oan người vô tội, hạn chế đến mức thấp nhất việc bỏ lọt tội phạm, hạn chế việc trả hồ sơ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.

Công tác kiểm sát xét xử: Theo dõi, quản lý chặt chẽ các bản án sơ thẩm nghiên cứu kháng nghị kịp thời khi phát hiện có vi phạm; do vậy chất lượng thực hành quyền công tố tại phiên toà đến nay được nâng lên

Công tác kiểm sát án dân sự, hành chính, kinh tế, lao động có nhiều đổi mới trong nhận thức và phương pháp. Kiểm sát chặt chẽ việc lập hồ sơ của Toà án, yêu cầu điều tra bổ sung chứng cứ đảm bảo cho các vụ việc giải quyết được khách quan, chính xác.

4. Đối với Thi hành án

Các vụ việc đã thụ lý đều được đưa ra thi hành và tuân thủ trình tự, thủ tục luật định. Các quyết định về thi hành án đảm bảo căn cứ pháp luật, phù hợp nội dung bản án, quyết định của Tòa án, không có trường hợp bị kháng nghị hoặc hủy bỏ.

 Kết quả công tác THA đạt được khá tốt, đạt và vượt yêu cầu kế hoạch, cụ thể: Từ năm 2006 đến năm 2010, Thi hành án Tam Kỳ đã đưa ra thi hành tổng số 4.633 vụ, đã thi hành 2.801 vụ có điều kiện thi hành, đạt tỷ lệ 95%. Tổng số tiền và giá trị hiện vật phải thi hành là  109.466.888.000đ, đã thi hành xong: 29.330.751.000đ, đạt tỷ lệ 80% trên số có điều kiện thi hành.

III. ĐÁNH GIÁ CHUNG

Nhìn chung, từ khi có Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị, nhận thức của cán bộ, đảng viên về công tác tư pháp đã có những chuyển biến tích cực; các cơ quan Tư pháp đã bám sát vào Nghị quyết, chương trình công tác trọng tâm, thể hiện tốt hơn vai trò trách nhiệm, đề ra các nhiệm vụ cụ thể, tập trung giải quyết có hiệu quả một số vụ việc phức tạp, tồn đọng trong nhiều năm, góp phần phát triển kinh tế xã hội, ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn thành phố.

Tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề tiếp tục cần quan  tâm như: Công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật có lúc có nơi còn chưa  kịp thời, chưa thật sự hiệu quả; một bộ phận cán bộ trình độ, năng lực hạn chế nên chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp; nhiều Hội thẩm nhân dân kiến thức pháp lý hạn chế, không có nghiệp vụ chuyên sau, kinh nghiệm thực tiễn chưa nhiều nên ảnh hưởng đến chất lượng xét xử và ra bản án dẫn đến một số bản án tuyên không có tính khả thi trên thực tế và bị Tòa án cấp trên hủy.

  III. Một số kiến nghị:

 1. Đề nghị các ngành Trung ương, Chính phủ sớm ban hành văn bản hướng dẫn các văn bản quy phạm pháp luật cho thống nhất đối với một số điều luật của BLHS, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính.

2. Cần quan tâm hỗ trợ kinh phí để xây dựng mới, mở rộng trụ sở làm việc cho các đơn vị chưa có trụ sở hoặc có trụ sở nhưng nơi làm việc quá chật hẹp;

3. Cần quan tâm đến chế độ đãi ngộ đối với cán bộ làm công tác tư pháp như quy định về chế độ phụ cấp ngành đối với cán bộ ngành Tư pháp; hỗ trợ kinh phí và tăng thời lượng tập huấn nghiệp vụ cho các chức danh tư pháp như: Hội thẩm nhân dân, Công chứng viên, Giám định viên….

Trên đây là báo cáo kết quả 6 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 49 -NQ/TW của Bộ Chính trị. Kính  báo cáo UBND thành phố./.

TRƯỞNG PHÒNG

(Đã ký)

Nguyễn  Thị Hường

Nơi nhận:

- UBND thành phố;

- Lưu: TP.

About these ads

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 36 other followers

%d bloggers like this: