ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ

LỜI GIỚI THIỆU

  Hoà giải là một nét đẹp truyền thống, đạo lý của dân tộc Việt Nam, là hoạt động mang tính nhân văn và tính xã hội sâu sắc. Hoà giải ở cơ sở được thực hiện thông qua hoạt động của Tổ hoà giải, tổ viên Tổ hoà giải đã góp phần quan trọng vào việc giữ gìn tình làng, nghĩa xóm, phát huy truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng dân cư, phòng ngừa và hạn chế vi phạm pháp luật, ổn định trật tự, an toàn xã hội.

Để góp phần đáp ứng yêu cầu nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật và nghiệp vụ hoà giải cho người làm công tác hoà giải ở cơ sở, phục vụ tốt cho việc tổ chức Hội thi Hoà giải viên giỏi thành phố Tam Kỳ lần thứ 4, được sự chỉ đạo của UBND, HĐPHCTPBGDPL thành phố, Phòng Tư pháp thành phố biên soạn tập tài liệu này để cung cấp kịp thời cho các địa phương thực hiện tập huấn nghiệp vụ và tổ chức cuộc thi hoà giải viên giỏi thành công.

Tập tài liệu bao gồm các phần sau:

 Phần I – Phổ biến giáo dục pháp luật thông qua công tác hoà giải.

Phần II – Nghiệp vụ hoà giải ở cơ sở

Phần IIICác văn bản pháp luật về hòa giải

Phần IV. Kinh nghiệm hoà giải một số vụ việc cụ thể

Xin trân trọng giới thiệu và rất mong muốn nhận được ý kiến trao đổi, góp ý của quý vị.

 

Biên soạn: Nguyễn Hồng Lai

   Phó trưởng phòng Tư pháp thành phố

Email: nhulai0102@gmail.com

 

PHẦN I. PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ.

1. Khái niệm về phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hòa giải ở cơ sở.

Trong đời sống hàng ngày, giữa các chủ thể tham gia quan hệ xã hội thường xuyên phát sinh tranh chấp. Các tranh chấp này có thể được giải quyết bằng nhiều con đường: thương lượng, hoà giải, Toà án hoặc trọng tài. Tuy nhiên người Việt Nam vốn coi trọng tình cảm, lấy sự hoà hiếu, nhân ái làm nền tảng để giải quyết mọi vấn đề nên ngay từ khi tranh chấp phát sinh,  nhân dân ta đã biết giúp đỡ,  hướng dẫn các bên tranh chấp tự thương lượng, điều đình để giải toả những mâu thuẫn, bất đồng giữa họ. Hoạt động này được gọi là hoà giải ở cơ sở.

Ý thức được vai trò quan trọng của hoạt động hoà giải ở cơ sở và để phát huy truyền thống đoàn kết tốt đẹp của dân tộc, nhà nước ta rất quan tâm phát triển công tác hoà giải ở cơ sở. Để tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động hoà giải ở cơ sở, ngày 5/12/1998, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở. Để triển khai thực hiện Pháp lệnh, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 160/1999/NĐ-CP ngày 18/10/1999 quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở.

Do trình độ hiểu biết pháp luật của nhân dân ta nói chung  còn thấp, nên trong đời sống hàng ngày nhiều người còn có những xử sự có tính chất tự phát không đúng pháp luật, không phù hợp với đạo lý và văn hoá truyền thống dẫn đến vi phạm pháp luật hoặc tranh chấp không đáng có. Bởi vậy, việc giải thích các quy định của pháp luật, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cho các bên tranh chấp là một cơ sở bảo đảm cho thành công của việc hoà giải ở cơ sở. Và ngược lại, trong khi tiến hành hoà giải, hoà giải viên có thể lồng ghép các nội dung để phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân.

Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hoà giải ở cơ sở là việc các tổ viên hoà giải bằng hoạt động hoà giải của mình cung cấp các kiến thức pháp luật, bồi dưỡng tình cảm pháp luật cho các bên tranh chấp và những người khác trong cộng đồng dân cư nhằm mục đích hình thành ở họ sự hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng pháp luật và thói quen hành động theo pháp luật.

Hoạt động hoà giải ở cơ sở có vai trò to lớn trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật, thể hiện qua các khía cạnh sau đây:

Thứ nhất: Người giữ vai trò trung tâm trong phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hoà giải là các tổ viên Tổ hoà giải hoặc người ngoài Tổ hoà giải được mời thực hiện việc hoà giải. Đây thường là những người am hiểu pháp luật và có uy tín trong cộng đồng dân cư. Họ có thể có quan hệ gần gũi với các bên tranh chấp và có những ảnh hưởng nhất định đối với các bên tranh chấp. Các hoà giải viên không chỉ có kiến thức pháp luật mà họ còn thấu hiểu được tâm tư, nguyện vọng của các bên tranh chấp, biết được phong tục, tập quán ở địa phương và truyền thống trong mỗi dòng họ, gia cảnh mỗi gia đình. Bởi vậy, hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật mà họ tiến hành là rất hiệu quả, dễ đi vào lòng người.

Thứ hai: Lực lượng hoà giải viên rất đông đảo và có mặt ở từng cơ sở: thôn, xóm ở nông thôn, bản làng ở miền núi, cụm dân cư, tổ dân phố ở các đô thị nên việc giáo dục, phổ biến pháp luật được thực hiện trên một phạm vi rộng và thấm tới từng gia đình, từng người dân. Đội ngũ hoà giải viên này là một lực lượng tuyên truyền viên pháp luật to lớn, sống sát nhân dân, mỗi khi xảy ra vi phạm pháp luật hoặc tranh chấp nhỏ họ kịp thời đến với các bên tranh chấp và bằng phương pháp hòa giải, họ phổ biến, giải thích các quy định của pháp luật có liên quan tới tranh chấp rồi hướng dẫn các bên tự vận dụng giải quyết vụ việc.

Thứ ba: Đối tượng giáo dục, phổ biến pháp luật qua hoạt động hoà giải ở cơ sở rất rộng. Đó là các bên tranh chấp, những người trong gia đình họ và những người trong cộng đồng dân cư. Những người này đều quan tâm đến việc vận dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp. Bởi vậy việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hòa giải ở cơ sở rất hiệu quả.

Thứ tư: Thông qua hoạt động hòa giải ở cơ sở có thể chuyển tải các nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật một cách phong phú, đa dạng và thiết thực. Các tranh chấp thuộc phạm vi hoà giải có thể phát sinh từ mọi quan hệ xã hội: quan hệ gia đình; quan hệ làng xóm, láng giềng; quan hệ về tài sản, về nghĩa vụ dân sự, thừa kế, những vi phạm pháp luật nhỏ, chưa đến mức bị xử lý bằng biện pháp hành chính hay biện pháp hình sự… Như vậy, khi tiến hành hoà giải, hoà giải viên có thể kết hợp phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau như: pháp luật đất đai, thừa kế, hôn nhân gia đình, pháp luật hình sự, quyền và nghĩa vụ của công dân đối với cộng đồng, quê hương, đất nước.

Thứ năm: Phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hoà giải ở cơ sở là phương pháp tác động trực tiếp từ chủ thể giáo dục (hoà giải viên) đến đối tượng giáo dục (các bên tranh chấp và những người khác) với nội dung phổ biến, giáo dục xác định, gắn liền với từng tranh chấp cụ thể. Do được tiếp cận trực tiếp với đối tượng giáo dục mà hoà giải viên có thể lựa chọn phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với từng đối tượng. Hơn nữa, việc phổ biến, giáo dục pháp luật gắn liền với việc giải quyết từng tranh chấp cụ thể phát sinh trong cuộc sống thường nhật của người dân, bởi vậy đây là hình thức tuyên truyền pháp luật hết sức thiết thực, thu hút được sự quan tâm của đối tượng tuyên truyền và do đó rất dễ đi vào lòng người.

2. Phương pháp thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hoà giải.

Cần gắn các việc sau đây vào các bước trong quá trình hoà giải cơ sở (xem Phụ lục VII “ Các bước nhằm phổ biến,  giáo dục pháp luật thông qua hoạt động  giải cơ sở).

- Sau khi nắm vững nội dung tranh chấp, hoà giải viên cần làm rõ tính chất của tranh chấp, từ đó xác định văn bản liên quan đến lĩnh vực xảy ra tranh chấp. Hoà giải viên giới thiệu hoặc cung cấp các văn bản này cho các bên tranh chấp để họ nắm được tinh thần pháp luật liên quan tới lĩnh vực xảy ra tranh chấp.

- Hoà giải viên tìm hiểu xem các bên tranh chấp đã có đủ văn bản chưa, tạo điều kiện để các bên tranh chấp trực tiếp đọc văn bản sau đó tìm hiểu xem họ có hiểu đúng tinh thần văn bản hay không. Nếu cần, hoà giải viên phân tích các qui định của pháp luật giải thích để hai bên hiểu đúng tinh thần pháp luật. Hoà giải viên có thể cung cấp thêm phong tục tập quán (các qui phạm đạo đức) cho các bên tranh chấp. Nếu gặp những vấn đề khó, hoà giải viên cần xin ý kiến của chuyên gia pháp luật, cán bộ tư pháp lâu năm… đảm bảo sao cho các qui phạm pháp luật, qui phạm đạo đức vận dụng cho từng trường hợp xảy ra tranh chấp là hoàn toàn đúng đắn, chính xác.

- Hoà giải viên gợi ý để các bên tranh chấp tự đối chiếu cách ứng xử của mình với các qui định của pháp luật, của đạo đức. Tự đánh giá phần đúng, phần sai của mình và của phía bên kia. Việc làm này là một trong các khâu cần thiết của công tác hoà giải, giúp các bên tranh chấp nhận thức pháp luật sâu sắc hơn.

- Hoà giải viên tổ chức cho các bên tranh chấp gặp nhau để thảo luận, giải quyết việc tranh chấp. Lúc này hoà giải viên có thể đối chiếu, phân tích các qui định của pháp luật về vấn đề các bên đang tranh chấp để các bên hiểu và có thể áp dụng giải quyết tranh chấp. Trên cơ sở các qui định của pháp luật, hoà giải viên có thể nêu các phương án giải quyết của mình để các bên tham khảo.

- Việc cuối cùng có ý nghĩa phổ biến, giáo dục pháp luật nhất là hoà giải viên nhấn mạnh những qui định mấu chốt của pháp luật nếu các bên chấp hành nghiêm chỉnh trong ứng xử của mình thì sẽ tránh được tranh chấp xảy ra. Điều đó có ý nghĩa trong việc nâng cao nhận thức và ý thức pháp luật cho các bên.

3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong công tác hoà giải ở cơ sở.

     3.1. Thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ.

Các lớp tập huấn này có thể được tổ chức định kỳ mỗi năm một lần hoặc tổ chức theo chuyên đề khi có những văn bản pháp luật mới được thông qua, liên quan chặt chẽ đến đời sống nhân dân địa phương. Nội dung các đợt tập huấn nên xây dựng linh hoạt, mềm dẻo và phù hợp với đặc thù công tác hoà giải ở từng địa phương. Có thể tập huấn về kỹ năng hoà giải và phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hoà giải hoặc giới thiệu các quy định của pháp luật liên quan trực tiếp đến hoạt động hoà giải ở cơ sở.

3.2. Tổ chức hội nghị sơ kết, tổng kết hay tọa đàm trao đổi kinh nghiệm về hoạt động hoà giải ở cơ sở và công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hoà giải.

Đây là diễn đàn để các hoà giải viên có thể trao đổi kinh nghiệm với nhau, giúp nhau tháo gỡ những khó khăn trong thực tiễn công tác.

3.3. Tổ chức các hội thi hoà giải viên giỏi, tuyên truyền viên pháp luật giỏi với những nội dung thi phong phú, đa dạng và sinh động.

Các hội thi này không chỉ tạo phong trào, động viên phong trào mà còn là một dịp tốt để các hoà giải viên gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm công tác. Ngoài ra, phụ thuộc vào khả năng của mỗi địa ph­ương mà có thể tổ chức những buổi sinh hoạt chuyên môn định kỳ cho các hoà giải viên.

3.4. Cung cấp tài liệu, văn bản pháp luật cho đội ngũ hoà giải viên.

Đây là một biện pháp quan trọng để tăng cường hiệu quả của hoạt động phổ biến, giáo dục thông qua hoà giải. Hiện nay, vì nhiều lý do khác nhau mà việc tiếp cận các văn bản pháp luật, đặc biệt là các văn bản mới còn rất khó khăn. Bởi vậy, các cơ quan tư pháp ở địa phương cần có kế hoạch và biện pháp cụ thể để cung cấp đầy đủ các văn ban pháp luật liên quan đến hoạt động hoà giải ở cơ sở cho các tổ hoà giải. Cần đẩy mạnh công tác xây dựng, quản lý tủ sách pháp luật để có nguồn văn bản pháp luật cho các hoà giải viên.

3.5. Biên soạn và phát hành “Sổ tay hoà giải viên “

Sổ tay nên có hai nội dung cơ bản là: (i) Các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động hoà giải ở cơ sở; (ii) Kỹ năng và một số kinh nghiệm trong công tác hoà giải. Đây chính là một công cụ hữu dụng cho hoạt động hoà giải và phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hoà giải của các hoà giải viên.

Cuối cùng, để đảm bảo vai trò và hiệu quả của công tác hoà giải ở cơ sở thì các cấp chính quyền địa phương, các cơ quan, ban, ngành có liên quan phải tạo mọi điều kiện thuận lợi và có những biện pháp hỗ trợ, giúp đỡ cụ thể. Căn cứ tình hình và khả năng ngân sách địa phương mà Uỷ ban nhân dân tạo điều kiện, hỗ trợ về kinh phí cho việc kiện toàn, tổ chức, bồi dưỡng nghiệp vụ, sơ kết, tổng kết, thi đua khen thưởng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động hoà giải ở địa phương. Phòng, Ban Tư pháp xã phường, thị trấn có trách nhiệm thực hiện việc bồi dưỡng nghiệp vụ hoà giải, cung cấp tài liệu nghiệp vụ cho tổ hoà giải theo hướng dẫn của cơ quan tư pháp cấp trên; sơ kết, tổng kết công tác của Tổ hoà giải; báo cáo công tác hoà giải với Uỷ ban nhân dân địa phương và cơ quan tư pháp cấp trên; tổ chức thi đua, khen thưởng công tác hoà giải ở địa phương.

PHẦN II. NGHIỆP VỤ HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ

I. MÔ HÌNH TỔ CHỨC, CÁCH THỨC THÀNH LẬP TỔ HOÀ GIẢI CƠ SỞ

1. Hoà giải ở cơ sở và mô hình tổ hoà giải cơ sở

1.1 Hoà giải ở cơ sở

Hoà giải ở cơ sở là một truyền thống, một đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Hoạt động hoà giải mang đậm tính nhân văn, hoạt động vì mọi người và trên cơ sở tình người. Mục đích chính của công tác hoà giải ở cơ sở nhằm giữ gìn tình làng, nghĩa xóm, tình đoàn kết tương thân, tương ái trong cộng đồng, tập thể, hàn gắn, vun đắp sự hoà thuận, hạnh phúc cho từng gia đình. Hòa giải mang lại niềm vui cho mọi người, mọi nhà, góp phần giữ gìn trật tự an toàn xã hội, nâng cao ý thức pháp luật của người dân. Điều 127 Hiến pháp 1992 quy định: “Ở cơ sở thành lập các tổ chức thích hợp của nhân dân để giải quyết những vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật”.  Trên cơ sở quy định này của Hiến pháp, ngày 25/12/1998, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở; ngày 18/10/1999 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 160/1999/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở. Đây là những văn bản pháp lý thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước đối với công tác hoà giải ở cơ sở, khẳng định vị trí, vai trò không thể thiếu được của công tác này trong đời sống cộng đồng.

Theo quy định tại Điều 1 của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở và Điều 2 Nghị định 160/1999/NĐ-CP thì: “Hoà giải ở cơ sở là việc hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên tranh chấp đạt được thoả thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, củng cố, phát huy những tình cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng dân cư, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư”.

Mục đích của hoà giải ở cơ sở là hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên tranh chấp đạt được thoả thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp ngay từ ban đầu, nhằm ngăn chặn tình trạng “cái sảy nảy cái ung” hay “việc bé xé ra to”, không để việc nhỏ phát sinh thành việc lớn dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng.

1.2 Vai trò của hoà giải ở cơ sở

Công tác hoà giải có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng tình làng, nghĩa xóm đầm ấm, đùm bọc, giúp đỡ nhau, xây dựng xã hội bình yên, giàu mạnh, tăng cường tình đoàn kết trong nhân dân và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân:

- Công tác hoà giải trực tiếp giải quyết những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân; giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm ở cơ sở. Thông qua việc phát hiện và giải quyết tận gốc những mâu thuẫn, tranh chấp góp phần ổn định trật tự xã hội ở địa bàn dân cư, tạo điều kiện thuận lợi cho các cấp chính quyền tăng cường công tác quản lý xã hội ở cơ sở;

- Công tác hoà giải có hiệu quả sẽ góp phần hạn chế đơn thư, khiếu kiện trong nhân dân, giảm bớt tình trạng gửi đơn kiện cáo lên Toà án, cơ quan hành chính cấp trên, giúp cho các cơ quan nhà nước giảm bớt việc giải quyết đơn thư khiếu kiện không cần thiết, tiết kiệm thời gian và tiền bạc của cơ quan nhà nước và công dân;

- Công tác hoà giải góp phần phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân, hình thành trong mỗi cá nhân ý thức chấp hành pháp luật, kỷ cương của Đảng và Nhà nước, từng bước xây dựng ý thức “sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” trong nhân dân.

1.3 Mô hình tổ chức hoà giải ở cơ sở

Theo Điều 2 Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải quy định: “Hoà giải ở cơ sở được thực hiện thông qua hoạt động của tổ hoà giải hoặc các tổ chức thích hợp khác của nhân dân ở thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư khác phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội và phong tục tập quán tốt đẹp của nhân dân”.

Như vậy, hoạt động hoà giải ở cơ sở không phải do cơ quan nhà nước hay tổ chức chuyên môn nghề nghiệp thực hiện mà do Tổ hoà giải hoặc các tổ chức thích hợp khác của nhân dân (như Mặt trận Tổ quốc, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Hội nông dân Việt Nam), ở thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố, cụm dân cư thực hiện. Trong đó, tổ hoà giải ở cơ sở là tổ chức tự quản của nhân dân, do nhân dân bầu ra theo từng tổ dân phố, cụm dân cư. Công tác hoà giải ở cơ sở chủ yếu là “hướng dẫn, thuyết phục, dàn xếp, giúp đỡ” chứ không phải bằng phán xét, bằng quyết định, bằng quyền lực của các cơ quan nhà nước, không do cơ quan nhà nước thực hiện. Bản chất của công tác hoà giải là một hình thức tự quản của nhân dân.

Điều 7 Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở quy định: Tổ hoà giải ở cơ sở là tổ chức tự quản của nhân dân được thành lập ở thôn, xóm, bản ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư khác để thực hiện hoặc tổ chức thực hiện việc hoà giải những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật.

Tổ hoà giải có tổ trưởng và các tổ viên do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn phối hợp với các tổ chức thành viên của Mặt trận lựa chọn, giới thiệu để nhân dân bầu và do Uỷ ban nhân dân cùng cấp công nhận. Mỗi Tổ hoà giải có từ ba tổ viên trở lên. Căn cứ đặc điểm, tình hình cụ thể của cụm dân cư và kết quả cuộc họp thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố, kết quả cuộc họp chủ hộ hoặc kết quả phiếu lấy ý kiến chủ hộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quyết định số lượng Tổ hoà giải ở địa phương. Thành viên của Tổ hoà giải là người có phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín trong nhân dân, có khả năng thuyết phục, có tinh thần tự nguyện và do chính nhân dân bầu lên.

Như vậy, tổ hoà giải là một tổ chức quần chúng của nhân dân, do dân bầu ra và được thành lập ở cơ sở thôn, xóm, bản ấp, tổ dân phố hoặc cụm dân cư…Về bản chất tổ hoà giải là tổ chức quần chúng, không phải là tổ chức chính quyền, được thành lập để hoà giải tại chỗ, thường xuyên, kịp thời các vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân, góp phần tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho nhân dân cơ sở, nhằm chủ động ngăn ngừa vi phạm pháp luật, hạn chế các vụ việc phải đưa ra Toà án giải quyết.

1.4 Tiêu chuẩn, nhiệm vụ của tổ viên, tổ trưởng Tổ hoà giải

Tiêu chuẩn tổ viên Tổ hoà giải

Tổ viên Tổ hoà giải do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn phối hợp với các tổ chức thành viên của Mặt trận lựa chọn, giới thiệu để nhân dân bầu và được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn ra quyết định công nhận. Tổ viên Tổ hoà giải là công dân từ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự và có đủ các tiêu chuẩn sau:

- Có phẩm chất đạo đức tốt, nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và có uy tín trong nhân dân;

- Có khả năng thuyết phục, vận động nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật;

- Tự nguyện tham gia tổ chức hoà giải, có tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình trong công tác hoà giải. (Điều 9 Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở).

Tổ viên tổ hoà giải có các quyền hạn, nhiệm vụ sau:

- Hoà giải các vụ việc theo quy định của pháp luật;

- Thông qua hoạt động hoà giải để tuyên truyền, vận động nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật;

- Đối với những tranh chấp không thuộc phạm vi hoà giải nhưng có thể ảnh hưởng đến trật tự, an ninh ở địa phương, thì tổ viên Tổ hoà giải phải báo cáo Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn để xem xét và có biện pháp giải quyết.

Tổ trưởng tổ hoà giải

Tổ trưởng Tổ hoà giải là người phụ trách Tổ hoà giải, đồng thời tham gia hoạt động hoà giải với tư cách là tổ viên. Tổ trưởng Tổ hoà giải có quyền hạn, nhiệm vụ sau:

- Phân công, điều hoà, phối hợp hoạt động của tổ viên Tổ hoà giải; phối hợp với các tổ hoà giải trong việc nâng cao nghiệp vụ và trong hoạt động hoà giải tranh chấp liên quan đến địa bàn hoạt động của các Tổ hoà giải đó;

- Tổ chức các cuộc họp định kỳ và đột xuất để rút kinh nghiệm về công tác hoà giải và đề xuất với Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn về các biện pháp nâng cao hiệu quả của công tác hoà giải; cung cấp tài liệu và các thông tin nâng cao nghiệp vụ hoà giải;

- Báo cáo định kỳ và đột xuất về công tác hoà giải cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn và Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp;

- Đại diện cho Tổ hoà giải trong quan hệ với Trưởng thôn, xóm, bản, ấp, Tổ trưởng tổ dân phố, cụm dân cư và với các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở cơ sở.

1.5 Thủ tục bầu tổ viên, tổ trưởng tổ hoà giải

Căn cứ vào các tiêu chuẩn và nhiệm vụ của tổ viên tổ hoà giải, công dân từ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự, có đủ các tiêu chuẩn quy định và có điều kiện tham gia công tác hoà giải đều có quyền đề cử, ứng cử vào danh sách bầu tổ viên tổ hoà giải.

Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn phối hợp với các tổ chức thành viên của mặt trận lựa chọn, giới thiệu người để nhân dân bầu tổ viên tổ hoà giải.

Việc bầu tổ viên Tổ hoà giải được tổ chức ở thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố và cụm dân cư nơi Tổ hoà giải hoạt động và được tiến hành theo một trong các hình thức sau:

- Họp nhân dân bàn, biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín;

- Họp chủ hộ trong thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố, biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín;

Những người tham dự họp nhân dân hoặc đại diện cho chủ hộ trong cuộc họp chủ hộ phải là người từ 18 tuổi trở lên và có năng lực hành vi dân sự. Các cuộc họp nói trên được tiến hành khi có ít nhất 2/3 số người trong diện họp tham dự.

- Trong trường hợp không tổ chức họp được thì phát phiếu lấy ý kiến chủ hộ gia đình.

Người được bầu là tổ viên Tổ hoà giải phải được quá nửa số người tham gia bầu tán thành.

Trưởng thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố tổ chức và chủ trì các cuộc họp nhân dân, họp chủ hộ để bầu tổ viên Tổ hoà giải hoặc tổ chức việc phát phiếu lấy ý kiến chủ hộ.

Biên bản bầu tổ viên tổ hoà giải trong các cuộc họp nhân dân, họp chủ hộ, biên bản kết quả phiếu lấy ý kiến chủ hộ và biên bản bầu Tổ trưởng Tổ hoà giải được gửi đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xem xét để công nhận thành phần Tổ hoà giải.

Tổ trưởng tổ hoà giải do các tổ viên tổ hoà giải bầu trong số tổ viên.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xem xét và ra quyết định công nhận việc thành lập Tổ hoà giải và thành phần Tổ hoà giải.

1.6 Miễn nhiệm tổ viên tổ hoà giải

Tổ viên tổ hoà giải bị miễn nhiệm trong những trường hợp sau:

-  Có hành vi vi phạm pháp luật;

-  Có hành vi trái đạo đức xã hội;

-  Thiếu nhiệt tình trong hoạt động hoà giải;

-  Theo nguyện vọng cá nhân xin rút khỏi tổ hoà giải.

Căn cứ biên bản họp nhân dân, họp chủ hộ hoặc kết quả phiếu lấy ý kiến chủ hộ về việc miễn nhiệm tổ viên Tổ hoà giải do Trưởng thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố chủ trì, Ban Tư pháp đề nghị bằng văn bản để Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định việc miễn nhiệm.

2. Nguyên tắc và phạm vi hoà giải

2.1 Nguyên tắc hoà giải

Nguyên tắc hoà giải là những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo mà khi tiến hành hoạt động hoà giải phải tuân thủ một cách đầy đủ, toàn diện và nghiêm túc. Các nguyên tắc này được quy định tại Điều 4 Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở.

- Hoà giải phải phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội và phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân

Khi giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ trong nhân dân nếu như người hoà giải chỉ căn cứ vào các chuẩn mực đạo đức truyền thống của dân tộc, phong tục tập quán của địa phương, dòng họ để dàn xếp các mâu thuẫn, tranh chấp thì chưa đủ và không hiệu quả. Các vụ việc nếu chỉ dừng lại ở các quy phạm đạo đức để hoà giải thì chưa hẳn đã mang lại kết quả tích cực và thoả đáng. Một vụ việc chỉ được giải quyết dứt điểm và có hiệu quả cao khi người hoà giải bên cạnh việc căn cứ vào các chuẩn mực đạo đức, phong tục, tập quán còn cần phải nắm vững và vận dụng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhất là những quy định pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công dân.

Để thực hiện nguyên tắc này, tổ viên Tổ hoà giải phải nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước. Trước hết, cần nắm vững quy định của pháp luật liên quan trực tiếp đến công tác hoà giải ở cơ sở như pháp luật dân sự (quan hệ tài sản, quan hệ hợp đồng dân sự, nghĩa vụ dân sự, thừa kế,…), pháp luật hôn nhân và gia đình (quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, quan hệ cha mẹ, con, nhận nuôi con nuôi, ly hôn, yêu cầu cấp dưỡng…), pháp luật về đất đai (quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất…), pháp luật hành chính và pháp luật hình sự…

Bên cạnh việc hoà giải theo đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, hoà giải viên cần phải kết hợp với các quy phạm đạo đức, phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân. Pháp luật được thể hiện ở hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Phong tục, tập quán thường được thể hiện hoặc bằng ngôn ngữ như luật tục của đồng bào các dân tộc thiểu số, các hương ước, quy ước làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư, tổ dân phố, hoặc bằng các thói quen ứng xử dưới dạng các hành động cụ thể. Phong tục, tập quán được áp dụng phải là phong tục tập quán tốt đẹp, không trái với pháp luật và quy tắc xây dựng nếp sống mới. Nếu phong tục, tập quán đã được quy định trong các hương ước, quy ước làng thì phải được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện phê duyệt thực hiện. Đối với các hủ tục, tập quán lỗi thời thì tuyệt đối không được vận dụng để hoà giải.

- Hoà giải phải tôn trọng sự tự nguyện của các bên, không bắt buộc, áp đặt các bên tranh chấp phải tiến hành hoà giải

Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của hoà giải ở cơ sở. Vì bản chất của hoà giải ở cơ sở là việc hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên tranh chấp đạt được thoả thuận trên cơ sở tự nguyện. Nguyên tắc này nhằm bảo đảm quyền tự định đoạt của các bên có tranh chấp trong việc giải quyết các vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ.

Người làm công tác hoà giải phải hiểu được tâm lý của những người đang có mâu thuẫn, tranh chấp, giữa họ ai cũng có những lý lẽ cho rằng mình đúng và không chấp nhận lý lẽ của bên kia. Do đó, khi hoà giải, tổ viên tổ hoà giải phải giúp họ bình tĩnh, tỉnh táo để nhìn nhận ra sự thật, thấy rõ cái đúng, cái sai của cả hai bên. Chỉ khi nào họ hiểu đúng đắn và thông cảm với nhau thì họ mới tự nguyện cùng nhau giải quyết mọi mâu thuẫn.

Tuy nhiên có những trường hợp, nếu tiến hành hoà giải các bên có thể chưa chấp nhận ngay thì tổ viên tổ hoà giải phải dùng phương pháp thuyết phục để hai bên đi đến thoả thuận mà không được tìm cách áp đặt.

Một trong những phương pháp để hai bên đi đến thoả thuận trong trường hợp họ không chấp nhận thì tổ viên tổ hoà giải phải nhờ đến sự trợ giúp của người đại diện chính quyền như công an hay đại diện của tổ chức xã hội để tạo nên một tâm lý nhất định đối với một hoặc các bên tranh chấp, để họ đồng ý chấp nhận việc hoà giải. Đương nhiên sự tác động tâm lý này không được mang tính ép buộc mà chỉ là sự hỗ trợ cho hoà giải viên thực hiện thành công việc hoà giải.

- Hoà giải phải khách quan, công minh, có lý, có tình, giữ bí mật thông tin đời tư của các bên tranh chấp, tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng

Thông thường khi mâu thuẫn xảy ra, mỗi bên tranh chấp đều đưa ra lý lẽ để tự bảo vệ mình cho mình là đúng, không nhìn nhận được cái sai của mình đã gây ra cho người khác. Do đó người hoà giải phải thực sự khách quan, vô tư, công minh, đề cao lẽ phải, tìm cách thuyết phục để mỗi bên hiểu rõ sai trái, không xuề xòa “dĩ hoà vi quý” cho xong việc. Hơn nữa sự công minh, khách quan, vô tư của người hoà giải sẽ là yếu tố để hai bên đặt lòng tin và cùng nhau giải quyết vụ việc.

Nguyên tắc có lý có tình là một trong những nguyên tắc đặc trưng nhất đối với hoạt động hoà giải ở cơ sở so với loại hình hoà giải khác. Trong hoà giải ở cơ sở cần tuân theo các quy phạm đạo đức, đề cao yếu tố tình cảm, khuyên nhủ các bên ứng xử theo các chuẩn mực đạo đức.  Tuy nhiên không chỉ áp dụng theo các quy phạm đạo đức nói chung, trong từng trường hợp cụ thể hoà giải viên cần phải hiểu và nắm vững các quy định của pháp luật để giải quyết sự việc và hướng dẫn các bên thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của công dân theo quy định của pháp luật.

Việc tuân thủ nguyên tắc này chính là sự bảo đảm đạt được mục đích của công tác hoà giải là giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, củng cố, phát huy những tình cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình, cộng đồng dân cư, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư.

Trong quá trình thực hiện hoà giải, tổ viên Tổ hoà giải phải giữ bí mật thông tin về đời tư của các bên tranh chấp. Khi đã được các bên tranh chấp tin tưởng và thổ lộ thông tin thầm kín về đời tư của mình cho hoà giải viên, thì hoà giải viên không được phép tiết lộ thông tin đó cho người khác. Song cũng cần phân biệt giữa bí mật thông tin đời tư cá nhân và thông tin bí mật của các bên tranh chấp về hành vi bất hợp pháp mà họ đã thực hiện.

Bên cạnh đó, hoà giải phải tuân thủ nguyên tắc tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng. Nguyên tắc này mang tính pháp lý cao và thường được áp dụng cho mọi loại hình hoà giải các tranh chấp kể cả việc hoà giải được thực hiện bởi Toà án và tổ chức trọng tài. Đối với hoà giải  ở cơ sở, các tranh chấp, xích mích trong đời sống sinh hoạt hàng ngày liên quan đến sử dụng lối đi qua nhà, sử dụng điện, nước sinh hoạt, vệ sinh môi trường… thường liên quan đến nhiều người khác ngoài các bên tranh chấp, do đó Tổ hoà giải không thể vì mục đích đạt được hoà giải thành mà làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Việc hoà giải phải tuân thủ nguyên tắc không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng.

 - Hoà giải phải kịp thời, chủ động, kiên trì nhằm ngăn chặn vi phạm pháp luật, hạn chế những hậu quả xấu khác có thể xảy ra và đạt được kết quả hoà giải

Trong cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày có thể xảy ra những va chạm, xích mích, tranh chấp nhỏ giữa các thành viên trong gia đình, họ tộc, xóm giềng, bạn bè… với nhau mà nếu không được giải quyết kịp thời, có lý, có tình thì có thể từ những va chạm, xích mích, mâu thuẫn nhỏ sẽ dễ trở thành những mâu thuẫn lớn. Từ những tranh chấp, mâu thuẫn trong quan hệ dân sự, kinh tế, hôn nhân gia đình có thể chuyển thành vụ án hình sự, gây mất đoàn kết, ảnh hưởng đến trật tự chung. Vì vậy, các hoà giải viên cần chủ động, kịp thời ngăn chặn hậu quả xấu, phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm hình sự có thể xảy ra để giữ gìn được tình làng, nghĩa xóm, tình đoàn kết tương thân, tương ái trong cộng đồng, tập thể.

Để tạo cơ sở pháp lý bảo đảm cho việc thực hiện nguyên tắc kịp thời, chủ động trong hoạt động hoà giải ở cơ sở, Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở thì tổ viên tổ hoà giải có thể chủ động hoà giải hoặc tổ chức việc hoà giải theo sáng kiến của mình (khoản 1 Điều 10). Nghị định số 160/1999/NĐ-CP quy định: “Việc hoà giải có thể được tiến hành theo sáng kiến của tổ viên Tổ hoà giải ngay tại thời điểm xảy ra tranh chấp, nếu tổ viên Tổ hoà giải là người chứng kiến và xét thấy cần thiết phải hoà giải ngay” (khoản 1 Điều 13).

Khác với các loại hình hoà giải khác, pháp luật không quy định thời hạn tiến hành việc hoà giải một tranh chấp do tổ hoà giải thực hiện. Điều 16 Nghị định số 160/1999/NĐ-CP quy định: “Việc hoà giải được kết thúc khi các bên đã đạt được thoả thuận và tự nguyện thực hiện thỏa thuận đó”. Quy định này thể hiện một trong các đặc điểm của thực tiễn hoạt động công tác hoà giải ở cơ sở là có nhiều việc tranh chấp trong cộng đồng dân cư đòi hỏi tổ viên tổ hoà giải phải kiên trì việc hoà giải. Người hoà giải đến gặp gỡ từng bên để lắng nghe, thuyết phục rồi sau đó tổ chức cho các bên trực tiếp gặp nhau ở một nơi thuận tiện, giúp họ thông cảm với nhau. Cuộc gặp gỡ phải tránh biến thành cuộc đối chất giữa hai bên trong bầu không khí căng thẳng. Sau khi tìm hiểu đầy đủ sự việc, lắng nghe ý kiến của các bên, người hoà giải phải bằng tất cả sự cảm thông, khéo léo phân tích, thuyết phục cho các bên đạt tới thoả thuận phù hợp với pháp luật, đạo đức, tập quán tốt đẹp của nhân dân và cùng nhau thực hiện những thoả thuận đó.

2.2 Phạm vi hoà giải

- Những vụ việc được hoà giải

Theo quy định tại khoản 1 điều 4 Nghị định số 160/1999/NĐ-CP thì hoà giải được tiến hành đối với việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong cộng đồng dân cư, gồm:

+  Mâu thuẫn, xích mích giữa các thành viên trong gia đình do khác nhau về quan niệm sống, lối sống, tính tình không hợp hoặc mâu thuẫn, xích mích giữa các cá nhân trong quan hệ xóm giềng như sử dụng lối đi qua nhà, sử dụng điện, nước sinh hoạt, công trình phụ, giờ giấc sinh hoạt, gây mất vệ sinh chung….

+  Tranh chấp về quyền, lợi ích phát sinh từ quan hệ dân sự như tranh chấp phát sinh từ  các quan hệ về tài sản, quan hệ hợp đồng dân sự, nghĩa vụ dân sự, thừa kế quyền sử dụng đất.

Tổ hoà giải chỉ hoà giải các tranh chấp về quyền, lợi ích phát sinh từ quan hệ dân sự là tranh chấp nhỏ. Căn cứ để coi tranh chấp này là tranh chấp nhỏ không nhất thiết dựa vào giá trị tranh chấp. Có những trường hợp tuy giá trị tranh chấp tương đối lớn, nhưng vẫn có thể hoà giải được vì tình tiết sự việc đơn giản, rõ ràng, không đòi hỏi người giải quyết tranh chấp phải có kiến thức chuyên môn và trình độ pháp lý cao; mức độ mâu thuẫn không quá gay gắt, có thể thuyết phục được các bên tranh chấp thoả thuận mà không trái với các nguyên tắc do pháp luật quy định.

+ Tranh chấp về quyền, lợi ích phát sinh từ quan hệ hôn nhân gia đình như: thực hiện quyền và nghĩa vụ vợ chồng; quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con; nhận nuôi con nuôi; ly hôn; yêu cầu cấp dưỡng.

Khi hoà giải những vụ việc này, tổ viên tổ hoà giải không được xem xét giải quyết những vụ việc mà pháp luật quy định thuộc thẩm quyền của cơ quan nhà nước như: chấm dứt nuôi con nuôi; truy nhận cha, mẹ cho con ngoài giá thú; phân xử việc ly hôn (cho ly hôn); ép buộc thực hiện các việc mà Luật hôn nhân và gia đình cấm.

+ Tranh chấp phát sinh từ  vi phạm pháp luật mà theo quy định những vi phạm đó chưa đến mức bị xử lý bằng biện pháp hành chính như trộm cắp vặt, đánh chửi nhau gây mất trật tự công cộng, đánh nhau gây thương tích nhẹ, va quệt xe cộ gây thương tích nhẹ.

Như vậy, việc hoà giải được tiến hành đối với các tranh chấp phát sinh từ những vi phạm pháp luật mà theo quy định của pháp luật, những vi phạm đó chưa đến mức xử lý bằng biện pháp hành chính  hoặc biện pháp hình sự. Đó là những vi phạm pháp luật nhỏ, nghĩa là vi phạm pháp luật thuộc loại này có thể có các yếu tố cấu thành tội song chưa tới mức nguy hiểm cho xã hội, hậu quả của hành vi gây ra là chưa đáng kể, ví dụ: hành vi ăn trộm con gà, buồng chuối… hay hành vi đánh nhau gây thương tích nhẹ…

- Những vụ việc không được hoà giải

Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Nghị định 160/1999/NĐ-CP thì tổ hoà giải không được tiến hành hoà giải các vụ việc sau:

Thứ nhất, các tội phạm hình sự

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Các tội phạm hình sự cụ thể được quy định tại phần các tội phạm (từ Chương XI đến Chương XXIV) của Bộ luật hình sự năm 1999.

Riêng đối với các hành vi vi phạm pháp luật hình sự mà người bị hại không yêu cầu khởi tố hoặc rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Viện kiểm sát hoặc Toà án không tiếp tục tiến hành việc tố tụng và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật đối với các hành vi cố ý như: cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác thì có thể hoà giải.

Thứ hai, hành vi vi phạm pháp luật bị xử lý vi phạm hành chính gồm:

- Hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử lý vi phạm hành chính;

- Hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính như: giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh; quản chế hành chính.

Thứ ba, Các vi phạm pháp luật và tranh chấp mà theo quy định của pháp luật không được hoà giải quy định tại điểm c khoản 2 Điều 3 của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở bao gồm:

- Kết hôn trái pháp luật: kết hôn trái pháp luật là những trường hợp như: tảo hôn (nam dưới 20 tuổi, nữ dưới 18 tuổi); việc kết hôn bị ép buộc, cưỡng ép, vi phạm nguyên tắc tự nguyện; việc kết hôn thuộc một trong những trường hợp Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định cấm kết hôn như: đang có vợ hoặc có chồng; người mất năng lực hành vi dân sự; giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha mẹ nuôi với con nuôi…

- Gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước: người nào có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản nhà nước, vì thiếu trách nhiệm mà để mất mát, hư hỏng, lãng phí gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên thì xử lý bằng biện pháp hình sự, không tiến hành hoà giải.

- Tranh chấp phát sinh từ giao dịch trái pháp luật là giao dịch vi phạm một trong những điều kiện sau:

+ Người tham gia giao dịch không có năng lực hành vi dân sự để thực hiện giao dịch đó. Năng lực hành vi dân sự (là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình để xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự). Theo pháp luật dân sự, người chưa đủ 6 tuổi thì không có năng lực hành vi dân sự, người thành niên (đủ 18 tuổi trở lên) nhưng mất năng lực hành vi dân sự như người mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình;

+ Mục đích và nội dung của giao dịch trái pháp luật, trái đạo đức xã hội;

+ Người tham gia giao dịch không hoàn toàn tự nguyện, bị lừa dối hoặc cưỡng ép;

+ Hình thức giao dịch không phù hợp với quy định của pháp luật .

Do đó, các tranh chấp phát sinh từ giao dịch dân sự trái pháp luật là những giao dịch mà mục đích và nội dung là trái pháp luật, trái đạo đức xã hội như giao dịch mua bán thuốc phiện, ma tuý, mại dâm…; hình thức giao dịch dân sự không phù hợp pháp luật như việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ thực hiện bằng lời nói, bằng miệng, trong khi pháp luật quy định phải làm bằng văn bản.

- Tranh chấp về lao động

Đó là những tranh chấp về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác, về thực hiện hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể và trong quá trình học nghề. Tranh chấp lao động bao gồm tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động và tranh chấp tập thể giữa người lao động với người sử dụng lao động.

Các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân gồm: Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động của cơ quan lao động cấp huyện và Toà án nhân dân. Cơ quan tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể gồm Hội đồng hoà giải lao động cơ sở, hoà giải viên lao động của cơ quan lao động cấp tỉnh và Toà án nhân dân.

Tranh chấp lao động không thuộc thẩm quyền giải quyết của tổ hoà giải cơ sở ở thôn, xóm, làng, bản, ấp, tổ dân phố, cụm dân cư.

3. Quản lý nhà nước về công tác hoà giải

3.1 Quản lý nhà nước về hoà giải ở cơ sở

 Hoà giải ở cơ sở là một hoạt động mang tính xã hội tự nguyện, tự quản đã trở thành đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta. Hoà giải ở cơ sở không chỉ đơn thuần góp phần hạn chế các tranh chấp dân sự và phòng ngừa tội phạm, vận động nhân dân sống và làm việc theo pháp luật, củng cố tình làng, nghĩa xóm, tăng cường tình đoàn kết  trong cộng đồng dân cư mà còn góp phần quan trọng trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy phát triển kinh, tế xã hội. Duy trì, phát triển, không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hoà giải ở cơ sở cũng chính là góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội của Nhà nước, đặc biệt là Nhà nước ta, nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Vì vậy, để phát huy tốt nhất hiệu quả đối với đời sống xã hội, hoà giải ở cơ sở cần phải được sự quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn, tạo điều kiện từ phía Nhà nước.

Quản lý nhà nước về công tác hoà giải ở cơ sở được hiểu là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm tạo ra các điều kiện để công nhận, xác lập, duy trì,  ổn định và phát triển tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở, bảo đảm cho hoạt động hoà giải ở cơ sở đạt hiệu quả, vừa tuân theo các quy định pháp luật vừa giữ gìn và không ngừng vun đắp cho nghĩa tình, đạo lý giữa con người với nhau trong đời sống cộng đồng, xã hội theo truyền thống “tối lửa tắt đèn có nhau” của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Cuộc sống đặt ra nhiều vấn đề buộc chúng ta phải bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống, nếp sống văn minh trong sinh hoạt cộng đồng được cha ông chắt lọc qua bao nhiêu thế hệ. Hòa giải “một điều nhịn, chín điều lành”, “chín bỏ làm mười”, “có lý, có tình” là một truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam. ý thức rõ điều này, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác hoà giải, đã có những biện pháp phù hợp nhằm duy trì, củng cố và phát triển công tác hoà giải, tạo cơ sở pháp lý cho công tác này không ngừng phát triển và phát huy tác động tích cực đối với đời sống.

3.2 Nội dung quản lý các cơ quan quản lý nhà nước về công tác hoà giải ở cơ sở

Theo quy định tại Điều 6 Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở; Điều 5, Điều 6 Nghị định số 160/1999/NĐ-CP ban hành ngày 18/10/1999 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở thì nội dung quản lý nhà nước về công tác hoà giải bao gồm:

- Ban hành văn bản pháp luật về tổ chức và hoạt động hoà giải;

- Hướng dẫn về tổ chức và hoạt động hoà giải;

- Tổ chức bồi dưỡng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nâng cao nghiệp vụ hoà giải cho người làm công tác hoà giải;

- Sơ kết, tổng kết công tác hoà giải.

Các cơ quan quản lý nhà nước về công tác hoà giải ở cơ sở bao gồm: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác hoà giải trong phạm vi cả nước; Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác hoà giải ở cơ sở và chỉ đạo, hướng dẫn Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về công tác hoà giải ở địa phương. Cụ thể như sau:

a. Bộ Tư pháp có trách nhiệm

- Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động hoà giải trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền;

- Hướng dẫn về tổ chức và hoạt động hoà giải trong phạm vi cả nước;

- Tổ chức bồi dưỡng và hướng dẫn các Sở Tư pháp tổ chức bồi dưỡng về đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nâng cao nghiệp vụ hoà giải cho người làm công tác hoà giải;

- Sơ kết, tổng kết công tác hoà giải của Tổ hoà giải trong phạm vi cả nước.

b. Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về công tác hoà giải ở địa phương theo sự chỉ đạo và hướng dẫn của Bộ Tư pháp

Căn cứ tình hình cụ thể và khả năng ngân sách của địa phương, Uỷ ban nhân dân các cấp tạo điều kiện, hỗ trợ về kinh phí cho việc kiện toàn tổ chức, bồi dưỡng nghiệp vụ, sơ kết, tổng kết, thi đua, khen thưởng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động hoà giải ở địa phương.

c. Trách nhiệm của cơ quan tư pháp địa phương về công tác hoà giải ở cơ sở

Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, Ban Tư pháp là cơ quan chuyên môn giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp thực hiện quản lý nhà nước về công tác hoà giải ở địa phương.

 Sở Tư pháp có trách nhiệm:

- Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về công tác hoà giải trình Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành. Hướng dẫn việc thực hiện quy định của cấp trên về tổ chức và hoạt động hoà giải trong phạm vi địa phương;

- Tổ chức bồi dưỡng và hướng dẫn Phòng Tư pháp tổ chức bồi dưỡng về đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nâng cao nghiệp vụ hoà giải cho người làm công tác hoà giải;

- Sơ kết, tổng kết và báo cáo Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Bộ Tư pháp về công tác hoà giải ở địa phương; tổ chức thi đua, khen thưởng công tác hoà giải ở địa phương.

Phòng Tư pháp có trách nhiệm:

- Theo sự chỉ đạo của cơ quan tư pháp cấp trên và của Uỷ ban nhân dân cấp huyện, hướng dẫn các Ban Tư pháp triển khai thực hiện các quy định về công tác hoà giải ở địa phương; đề xuất với Uỷ ban nhân dân cấp huyện biện pháp kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động hoà giải ở địa phương.

- Tổ chức bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ hoà giải cho đội ngũ hoà giải viên ở địa phương theo hướng dẫn của cơ quan tư pháp cấp trên.

Việc bồi dưỡng nghiệp vụ cần căn cứ vào trình độ cụ thể của đội ngũ hoà giải viên ở địa phương và yêu cầu giải quyết các vụ việc hoà giải thường xảy ra ở địa phương. Tránh việc bồi dưỡng chung chung hoặc đơn thuần chỉ thực hiện bồi dưỡng theo chỉ đạo của cấp trên.

- Sơ kết, tổng kết công tác hoà giải của Tổ hoà giải ở địa phương và báo cáo công tác hoà giải với Uỷ ban nhân dân cấp huyện và cơ quan tư pháp cấp trên; tổ chức thi đua, khen thưởng công tác hoà giải của Tổ hoà giải ở địa phương.

Ban Tư pháp có trách nhiệm:

Ban Tư pháp là cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn được thành lập để giúp Uỷ ban nhân dân thực hiện các công tác tư pháp ở cơ sở và công tác hoà giải ở địa phương có trách nhiệm cụ thể như sau:

- Kiện toàn tổ chức, củng cố đội ngũ những người làm công tác hoà giải:

+ Rà soát, nắm chắc số lượng tổ hoà giải và số lượng, chất lượng hoà giải viên hiện có ở địa phương được thành lập trước ngày Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở có hiệu lực để trình Uỷ ban nhân dân cùng cấp ra quyết định công nhận (nếu nội dung này chưa được thực  hiện);

+ Đối chiếu với yêu cầu nhiệm vụ cụ thể của địa phương để thực hiện các thủ tục thành lập tổ hoà giải mới;

+ Phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc xã (phường, thị trấn) hướng dẫn việc thực hiện các thủ tục, trình tự thành lập tổ hoà giải, bầu, miễn nhiệm Tổ trưởng, tổ viên Tổ hoà giải theo đúng quy định của pháp luật và hướng dẫn của cơ quan tư pháp cấp trên (trực tiếp là phòng Tư pháp);

+ Tham mưu cho Uỷ ban nhân dân cấp xã ra quyết định công nhận tổ hoà giải, tổ viên, tổ trưởng tổ hoà giải trên cơ sở kết quả bầu của nhân dân;

+ Theo dõi hoạt động hoà giải, nắm chắc những khó khăn, vướng mắc trong tổ chức, hoạt động của các tổ hoà giải và hoà giải viên; đề xuất các biện pháp giải quyết với Uỷ ban nhân dân xã hoặc các cơ quan, ngành liên quan.

- Thực hiện việc bồi dưỡng nghiệp vụ hoà giải, cung cấp tài liệu nghiệp vụ cho tổ hoà giải ở địa phương theo sự hướng dẫn của cơ quan tư pháp cấp trên:

+ Thường xuyên theo dõi, nắm bắt trình độ, năng lực của đội ngũ tổ viên Tổ hoà giải ở cơ sở;

+ Xây dựng trình Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn phê duyệt các chương trình, kế hoạch bồi dưỡng kiến thức pháp luật và nghiệp vụ hoà giải cho tổ viên Tổ hoà giải (Chương trình, kế hoạch phải phù hợp với trình độ của các tổ viên Tổ hoà giải, phù hợp với yêu cầu giải quyết các vụ việc hoà giải thường gặp ở địa phương);

+ Sau khi các chương trình, kế hoạch bồi dưỡng kiến thức pháp luật và nghiệp vụ hoà giải được phê duyệt, Ban Tư pháp cùng với sự chỉ đạo của cơ quan tư pháp cấp trên, phối hợp với các luật gia, chuyên gia có kinh nghiệm tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch đó;

+  Sưu tầm, tổng hợp tài liệu nghiệp vụ cần thiết về công tác hoà giải cung cấp cho các tổ hoà giải, nếu có điều kiện cấp đến tận tổ viên Tổ hoà giải.

-  Sơ kết, tổng kết công tác hoà giải của Tổ hoà giải ở địa phương và báo cáo công tác hoà giải với Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn và cơ quan tư pháp cấp trên:

+  Theo dõi, tổng hợp, thống kê nắm chắc số liệu về các loại vụ việc tiếp nhận, các vụ việc đã hoà giải thành, đang hoà giải, hoà giải không thành, số vụ việc chuyển lên cơ quan có thẩm quyền khác giải quyết, để từ đó đánh giá những mặt mạnh, mặt yếu, tồn tại, khó khăn, nguyên nhân, hiệu quả của công tác này và rút ra kinh nghiệm hay, điển hình tốt;

+ Tổ chức sơ kết, tổng kết công tác hoà giải của Tổ hoà giải ở địa phương;

+ Báo cáo công tác hoà giải với Uỷ ban nhân dân xã (phường, thị trấn) và cơ quan tư pháp cấp trên.

- Tổ chức thi đua, khen thưởng công tác hoà giải ở địa phương

+ Trên cơ sở mục tiêu, phương hướng hoạt động hoà giải ở địa phương, phát động phong trào thi đua trong hoạt động hoà giải;

+  Sơ kết, tổng kết các phong trào thi đua;

+ Thực hiện khen thưởng hoặc đề xuất cấp trên khen thưởng những tập thể, cá nhân điển hình trong công tác hoà giải.

3.3 Về kinh phí và các điều kiện vật chất cho công tác hoà giải ở cơ sở

Căn cứ vào tình hình cụ thể và khả năng ngân sách của địa phương, Ban Tư pháp lập dự trù kinh phí đề nghị Uỷ  ban nhân dân xã, phường, thị trấn hỗ trợ cho công tác hoà giải (hỗ trợ cho việc kiện toàn tổ chức tổ hoà giải, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật và nghiệp vụ hoà giải, họp giao ban, sơ kết, tổng kết, thi đua, khen thưởng, mua tài liệu pháp luật, tài liệu nghiệp vụ hoà giải, giấy, bút, sổ sách ghi chép…).

Có thể huy động các doanh nghiệp, tổ chức, đoàn thể và cá nhân có điều kiện hỗ trợ tiền, vật chất cho công tác hoà giải.

4. Hoạt động hoà giải

4.1 Các trường hợp tiến hành hoà giải

-  Hoạt động của Tổ hoà giải

Việc hoà giải do các tổ viên Tổ hoà giải tiến hành hoặc tổ chức tiến hành trong các trường hợp sau:

+ Tổ viên Tổ hoà giải chủ động tiến hành hoà giải hoặc mời người ngoài Tổ hoà giải thực hiện việc hoà giải theo sáng kiến của mình trong trường hợp trực tiếp chứng kiến hoặc biết về việc tranh chấp.

Khi tổ viên Tổ hoà giải chứng kiến hoặc biết việc tranh chấp trong cộng đồng dân cư thì có thể tự mình chủ động gặp gỡ ngay các bên tranh chấp để thực hiện việc hoà giải. Việc chủ động có mặt của tổ viên Tổ hoà giải trong nhiều trường hợp là rất cần thiết, có thể giải quyết các việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ một cách kịp thời, tránh để chuyện bé xé ra to, việc đơn giản thành việc phức tạp.

Tổ viên Tổ hoà giải có thể đứng ra tổ chức việc hoà giải theo sáng kiến của mình, có thể mời người ngoài Tổ hoà giải thực hiện việc hoà giải để cùng thuyết phục các bên tranh chấp.

Trong trường hợp tổ viên Tổ hoà giải mời người ngoài Tổ hoà giải cùng tham gia việc hoà giải thì tổ viên Tổ hoà giải vẫn đóng vai trò người thực hiện việc hoà giải và người được mời có vai trò giúp đỡ tổ viên thực hiện việc hoà giải. Người được mời có thể là người có trình độ pháp luật, có kiến thức xã hội, có uy tín, đóng vai trò “tư vấn pháp luật” cho tổ viên Tổ hoà giải. trong trường hợp cần thiết, “người được mời” tham gia thuyết phục các bên, phân tích về góc độ pháp lý đối với tranh chấp cho các bên hiểu và cùng thống nhất đi tới kết quả hoà giải.

+ Thực hiện việc hoà giải theo sự phân công của tổ trưởng Tổ hoà giải, theo đề nghị của các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân

Bên cạnh việc chủ động tiến hành hoặc tổ chức tiến hành hoà giải, tổ viên Tổ hoà giải còn thực hiện việc hoà giải theo sự phân công của Tổ trưởng hay theo đề nghị của các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân. Trong trường hợp này, tổ viên Tổ hoà giải phải tìm hiểu rõ các bên tranh chấp, nguyên nhân tranh chấp, dự kiến cách thức hoà giải cũng như việc có cần mời người ngoài Tổ hoà giải tham gia giải quyết tranh chấp hay không để việc hoà giải đạt được hiệu quả.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp cần thiết tổ viên Tổ hoà giải có thể từ chối việc hoà giải hoặc đề nghị mời tổ viên khác vì thấy mình có liên quan đến vụ việc hoà giải hoặc liên quan đến một trong hai bên tranh chấp nhằm đảm bảo việc hoà giải được khách quan, công bằng.

+ Thực hiện việc hoà giải theo yêu cầu của một bên hoặc các bên tranh chấp

Khi các bên tranh chấp tìm đến để yêu cầu thực hiện hoà giải, tổ viên Tổ hoà giải cần cân nhắc xem việc tranh chấp được yêu cầu hoà giải có thuộc phạm vi giải quyết bằng hoà giải ở cơ sở hay không. Vì trong thực tiễn, phần lớn các bên tranh chấp tìm đến Tổ hoà giải là vì Tổ hoà giải là nơi thuận tiện nhất, giải quyết kịp thời các tranh chấp, xích mích vừa phát sinh… nên tạo được uy tín trong cộng đồng dân cư, song cũng không ít trường hợp, các bên tranh chấp tìm đến Tổ hoà giải không phải để được giải quyết bằng con đường hoà giải đối với các tranh chấp, xích mích mà nhằm mục đích trốn tránh việc xử lý thoả đáng của pháp luật đối với hành vi vi phạm pháp luật mà họ gây ra. Ví dụ người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự, phạm tội cố ý gây thương tích cho người khác nhưng lại tìm đến việc hoà giải để trốn tránh hình phạt của pháp luật.

- Thông qua hoạt động của các tổ chức thích hợp khác của nhân dân ở thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư khác phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội và phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân: hoà giải của các thành viên trong gia đình, họ tộc, hoà giải của các tổ chức tự quản của nhân dân, các đoàn thể xã hội…

4.2 Thời gian, địa điểm tiến hành việc hoà giải

Về thời gian, tuỳ sự lựa chọn của các bên đương sự và tổ viên Tổ hoà giải để tiến hành việc hoà giải. Việc hoà giải có thể được tiến hành theo sáng kiến của tổ viên Tổ hoà giải ngay tại thời điểm xảy ra tranh chấp, nếu tổ viên Tổ hoà giải là người chứng kiến và xét thấy cần thiết phải hoà giải ngay. Thực tế cho thấy thời gian tốt nhất là vào lúc đã xong công việc, không còn bận rộn vào việc khác như buổi tối, ngày nghỉ, giờ nghỉ là những lúc thư thái, tĩnh tâm dễ cảm thông với nhau.

Việc chọn thời gian do kinh nghiệm và điều kiện cụ thể của tổ viên cũng như hoàn cảnh của các bên, nhưng càng gần thời gian phát sinh mâu thuẫn, tranh chấp càng tốt (có thể ngay sau khi có tranh chấp).

Địa điểm hoà giải do tổ viên Tổ hoà giải lựa chọn sao cho thuận lợi nhất cho việc hoà giải, phù hợp với nguyện vọng của các bên. Việc chọn địa điểm tuỳ thuộc kinh nghiệm của tổ viên Tổ hoà giải và điều kiện cụ thể nơi có vi phạm, tranh chấp.

4.3 Người tiến hành việc hoà giải

Việc hoà giải có thể do một hoặc một số tổ viên Tổ hoà giải tiến hành (kể cả tổ trưởng Tổ hoà giải). Đây là một quy định rất đặc thù đối với hoạt động hoà giải ở cơ sở. Trong hoạt động hoà giải tại Toà án phải tuân theo thủ tục tố tụng, pháp luật quy định cụ thể số thẩm phán trong hội đồng xét xử đối với từng cấp xét xử và từng loại vụ việc. Hoà giải của tổ chức trọng tài, số trọng tài viên tham gia giải quyết vụ việc là một hoặc ba là do các bên tranh chấp yêu cầu. Nhưng đối với hoà giải ở cơ sở, pháp luật không quy định cụ thể số lượng tổ viên Tổ hoà giải tham gia hoà giải trong các trường hợp. Do vậy, các tổ viên Tổ hoà giải có thể tự quyết định số tổ viên tham gia hoà giải đối với từng vụ, việc cụ thể. Đối với những việc tranh chấp tương đối phức tạp, mâu thuẫn giữa các bên gay gắt, sự có mặt của một số tổ viên Tổ hoà giải sẽ tác động nhiều hơn đến khía cạnh tâm lý của các bên tranh chấp hoặc mỗi tổ viên Tổ hoà giải sẽ đứng ra thuyết phục mỗi bên.

Trong trường hợp cần thiết, tổ viên tổ hoà giải có thể mời người ngoài Tổ thực hiện việc hoà giải hoặc cùng tham gia hoà giải. Người được mời có thể là người có trình độ pháp lý, có kiến thức xã hội và có uy tín đối với các bên tranh chấp. Trong từng trường hợp cụ thể, người được mời có thể là bạn bè thân thích, hàng xóm, láng giềng, người thân thích, người cao tuổi, già làng, trưởng bản, người biết rõ nguyên nhân tranh chấp… Những người được mời sẽ đóng vai trò giúp đỡ tổ viên thực hiện việc hoà giải, cùng giải thích, thuyết phục các bên, giúp cho việc hoà giải đạt kết quả tốt.

Tổ viên Tổ hoà giải không tiến hành việc hoà giải nếu họ là người có liên quan đến vụ việc cần được hoà giải hoặc vì những lý do cá nhân khác mà không thể bảo đảm hoà giải được khách quan hoặc không đem lại kết quả. Trong trường hợp này, Tổ trưởng Tổ hoà giải sẽ không phân công tổ viên đó thực hiện việc hoà giải.

4.4  Hoà giải các tranh chấp mà các đương sự ở các cụm dân cư khác nhau

Trong trường hợp các bên tranh chấp ở các cụm dân cư có các tổ hoà giải khác nhau, thì các Tổ hoà giải phải có sự phối hợp để cùng giải quyết vụ việc. Việc phối hợp hoà giải phải do Tổ trưởng hoặc người được Tổ trưởng phân công hoà giải thực hiện. Các tổ viên là người thực hiện việc hoà giải cũng có thể chủ động phối hợp với nhau nhưng phải báo cáo ngay với Tổ trưởng về việc phối hợp thực hiện việc hoà giải.

Thực tiễn công tác hoà giải thời gian qua cho thấy không ít những trường hợp các bên tranh chấp ở các cụm dân cư khác nhau (làng này với làng khác, thôn này với thôn khác, xã này với xã khác…) đã xảy ra thường khá phức tạp, gay gắt. Bởi vậy, những người thực hiện hoà giải ở các địa bàn khác nhau phải có sự phối hợp với nhau để giải quyết mâu  thuẫn, tranh chấp giữa các bên. Trong trường hợp mâu thuẫn, tranh chấp giữa các bên gay gắt, có thể gây hậu quả ảnh hưởng đến trật tự, an ninh trên địa bàn dân cư thì các tổ hoà giải kiến nghị cơ quan có thẩm quyền có biện pháp giải quyết kịp thời.

5. Phương thức và các bước tiến hành hoà giải

5.1. Phương thức tiến hành hoà giải

Việc hoà giải được tiến hành chủ yếu bằng lời nói: tổ viên Tổ hoà giải trực tiếp gặp gỡ các bên, dùng tình cảm, lý lẽ để thuyết phục các bên đạt được sự thoả thuận tự giải quyết các tranh chấp, vi phạm.

Trong trường hợp các bên tranh chấp yêu cầu tổ viên Tổ hoà giải lập biên bản hoà giải thì Tổ hoà giải lập biên bản. Tuy nhiên, biên bản hoà giải không phải là một chứng cứ pháp lý và cũng không làm phát sinh hậu quả pháp lý. Đó chỉ là sự thoả thuận giữa các bên mang ý nghĩa đạo lý, danh dự và tạo nên một sự ràng buộc về mặt đạo lý và tâm lý giữa các bên. Trong trường hợp đã có biên bản hoà giải thành nhưng sau đó các bên lại không muốn thực hiện thoả thuận đó thì không ai có quyền cưỡng chế các bên thi hành kết quả hoà giải thành đã được ghi nhận trong biên bản. Tổ hoà giải cũng chỉ có thể dựa vào biên bản hoà giải để thuyết phục các bên thực hiện kết quả hoà giải.

Trong trường hợp được các bên đồng ý, việc hoà giải cũng có thể  lập thành biên bản. Tổ viên Tổ hoà giải  có thể dựa vào biên bản hoà giải để làm cơ sở cho việc thuyết phục các bên tranh chấp đạt tới thoả thuận và thực hiện thoả thuận. Đối với việc tranh chấp về hôn nhân và gia đình, nếu hoà giải không thành thì tổ viên Tổ hoà giải nên lập biên bản hoà giải không thành làm cơ sở pháp lý để Toà án thụ lý vụ việc.

Tuy nhiên, từ quy định của Pháp lệnh, thì hoà giải do tổ hoà giải thực hiện không nhất thiết phải tuân theo một thủ tục chặt chẽ mà có thể tiến hành hoà giải ở mọi lúc, mọi nơi mà tổ viên Tổ hoà giải thấy thuận tiện cho việc hoà giải và việc hoà giải đạt kết quả, không cần trụ sở, biên bản, bàn giấy…tổ viên Tổ hoà giải chỉ dùng lời lẽ thuyết phục các bên, giúp họ đạt được thoả thuận.

5.2. Các bước tiến hành hoà giải

Từ thực tiễn hoạt động hoà giải có thể khái quát các bước tiến hành hoà giải được thực hiện như sau:

Bước 1: Trước khi hoà giải

- Khi xảy ra vụ việc mâu thuẫn, tranh chấp giữa các bên, người hoà giải cần có mặt kịp thời gặp gỡ các bên tranh chấp để can ngăn, dàn xếp, làm dịu tình hình căng thẳng giữa các bên khuyên nhủ hai bên có thái độ đúng mực, tôn trọng trật tự trị an. phải, trái, đúng, sai sẽ được giải quyết rõ ràng đồng thời nhắc nhở quần chúng xung quanh có trách nhiệm ổn định tình hình, không nên có thái độ châm chọc, kích động “lửa cháy đổ thêm dầu”, không nên kéo bè, lập cánh tổ chức thành cuộc ẩu đả lớn dẫn đến hành vi phạm tội… Đối với những vụ việc như đánh nhau, gây mất trật tự, an ninh trên địa bàn dân cư, tổ viên Tổ hoà giải cần có biện pháp ngăn chặn kịp thời và hạn chế các thiệt hại về người, về vật chất có thể xảy ra;

- Tìm hiểu nhanh nguyên nhân gây ra vụ việc, kịp thời thuyết phục, không để  “việc bé xé ra to”, “việc đơn giản thành việc phức tạp”;

- Có thể hội ý nhanh trong tổ hoà giải để bàn biện pháp hoà giải, phân công các hoà giải viên nắm chắc vụ việc, tiếp xúc với các đương sự để tiến hành hoà giải kịp thời. Nếu gặp vụ việc tranh chấp phức tạp, mâu thuẫn giữa các bên gay gắt, có thể gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự trong địa bàn dân cư thì Tổ hoà giải kịp thời báo cáo, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền để có biện pháp giải quyết.

Đây là bước quan trọng, nếu làm tốt bước này sẽ hạn chế, ngăn ngừa mâu thuẫn phát triển, tạo điều kiện cho việc hoà giải tiếp theo.

Bước 2: Tiến hành hoà giải

Đây là bước quan trọng có tính chất quyết định thành công hay thất bại của việc hoà giải. Để thực hiện bước này, tổ viên Tổ hoà giải cần làm những việc sau:

- Trực tiếp trao đổi với từng bên, tìm hiểu thêm các nguyên nhân mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh;

- Lựa chọn thời gian thích hợp để các bên gặp gỡ, trao đổi phân tích vụ việc, làm rõ đúng sai, dựa vào quy định của pháp luật, truyền thống đạo đức, phong tục tập quán để phân tích cho các bên thấy rõ lỗi của mình;

- Nắm chắc đặc điểm, tâm lý của từng bên cũng như tính chất vụ việc để áp dụng “nghệ thuật” hoà giải, tránh vội vàng, nôn nóng, “chụp mũ” hoặc làm tổn hại đến danh dự, tự ái cá nhân của các bên;

- Khi hoà giải tại gia đình (hoặc nơi do các bên tranh chấp yêu cầu), chủ yếu dùng tình cảm, uy tín, lẽ phải để thuyết phục các bên, không nên hình thức, phức tạp hoá trong khâu tổ chức thực hiện;

- Tuỳ từng trường hợp cụ thể, người tiến hành hoà giải chủ trì buổi gặp gỡ trao đổi, có thể mời thêm một số người làm chứng hoặc đại diện của một số tổ chức đoàn thể, người cao tuổi, người có uy tín, bạn bè thân thích… tham gia. Việc gặp gỡ trong buổi hoà giải phải tạo ra được thái độ thân mật, cởi mở và chân thành trên cơ sở “tình làng, nghĩa xóm”, không lấy biểu quyết hoặc dùng áp lực, áp đặt thoả thuận của các bên.

Bước 3. Sau khi hoà giải

Trong bước này, người tiến hành hoà giải có thể thực hiện các công việc sau:

- Nếu vụ việc hoà giải thành, tổ viên Tổ hoà giải cần động viên, thăm hỏi các bên và nhắc nhở các bên thực hiện cam kết của mình, tạo điều kiện để họ thực hiện tốt cam kết. Có thể biểu dương, động viên kịp thời việc thực hiện các cam kết của các bên trong các cuộc họp dân cư;

- Nếu vụ việc hoà giải không thành thì tổ hoà giải cần dàn xếp ổn định và hướng dẫn các bên đề nghị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết.

Dù hoà giải thành hay không thành, người làm công tác hoà giải cũng cần ghi chép vào sổ công tác về hoà giải để phục vụ cho việc thống kê báo cáo và tổ chức hội ý rút kinh nghiệm trong tổ hoặc đề đạt xin ý kiến của Ban Tư pháp xã.

 Một số điểm cần lưu ý khi tiến hành hoà giải

- Thường xuyên nắm tình hình để kịp thời phát hiện và có các biện pháp thích hợp để ngăn chặn các vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong cộng đồng dân cư;

- Cần tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các cá nhân, tổ chức có liên quan đến vụ việc hoà giải đặc biệt là những người có vai trò quan trọng và uy tín cao trong gia đình, họ tộc và trong cộng đồng dân cư. Đối với vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc cần chú ý và phát huy vai trò của Già làng, Trưởng buôn, Trưởng bản…;

- Khi vận dụng các phong tục tập quán của từng địa phương vào việc hoà giải cần xem xét phong tục, tập quán đó có trái với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước hay không. Chỉ được vận dụng các phong tục tập quán tốt đẹp, không trái với những quy định của pháp luật.

6. Kết thúc việc hoà giải

Theo Điều 16 Nghị định số 160/1999/Nđ-Cp ban hành ngày 18/10/1999 thì việc hoà giải được kết thúc khi các bên đã đạt được thoả thuận và tự nguyện thực hiện thoả thuận đó. Trong trường hợp việc thực hiện thoả thuận đó có khó khăn, thì tổ viên Tổ hoà giải động viên, thuyết phục các bên thực hiện thoả thuận và có thể đề nghị Trưởng thôn, xóm, ấp, tổ dân phố hoặc kiến nghị với Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn tạo điều kiện để các bên tự nguyện thực hiện thoả thuận.

Nếu các bên không thể đạt được thoả thuận và việc tiếp tục hoà giải không đạt kết quả, thì tổ viên Tổ hoà giải hướng dẫn cho các bên làm thủ tục cần thiết để đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết. Đối với tranh chấp phức tạp, mâu thuẫn giữa các bên gay gắt, có thể gây hậu quả ảnh hưởng đến an ninh, trật tự trong địa bàn dân cư, thì tổ viên Tổ hoà giải kịp thời báo cáo cho Tổ trưởng Tổ hoà giải để kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền có biện pháp giải quyết.

II. VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VÀ CÁC TỔ CHỨC THÀNH VIÊN TRONG CÔNG TÁC HOÀ GIẢI Ở CƠ SỞ

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Đồng thời, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính trị nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nơi hiệp thương, phối hợp và thống nhất hành động của các thành viên, góp phần giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh (Điều 1 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam).

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức có mạng lưới rộng khắp, hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động, quy tụ, tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân tham gia xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân; tuyên truyền, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật…Việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tuyên truyền, phổ biến cho nhân dân tự giác chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước cũng là một trong những mục tiêu đặt ra đối với công tác hoà giải ở cơ sở. Tại Điều 7 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã quy định một trong những nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc các cấp trong tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thi hành chính sách, pháp luật, đó là: “Tham gia hoạt động hoà giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật về hoà giải”. Bên cạnh đó, với tính chất là tổ chức gần gũi, có tầm ảnh hưởng sâu rộng và chi phối đến nhiều mặt của đời sống cộng đồng dân cư, quy tụ một lực lượng đông đảo các thành phần xã hội tham gia, Mặt trận Tổ quốc có lợi thế rất lớn khi tham gia công tác hoà giải ở cơ sở.

Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận… đối với công tác hoà giải ở cơ sở,  Điều 5 Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở đã quy định: “Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các cơ quan nhà nước hữu quan, động viên nhân dân trong việc xây dựng, củng cố Tổ hoà giải và các tổ chức hoà giải khác của nhân dân trong cộng đồng dân cư; giúp đỡ, tạo điều kiện cho hoạt động hoà giải ở cơ sở; tham gia hoà giải theo quy định của pháp luật.”

Trong việc hoà giải tranh chấp đất đai, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng có vai trò rất quan trọng. Điều 135 Luật đất đai năm 2003 quy định: “Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hoà giải tranh chấp đất đai”.

Như vậy, vai trò của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc trước hết thể hiện trong việc phối hợp với các cơ quan nhà nước hữu quan xây dựng, củng cố Tổ hoà giải và các tổ chức hoà giải khác của nhân dân tại địa bàn. Nghị định số 50/2001/NĐ-CP ban hành ngày16/8/ 2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại khoản 3 Điều 6 đã quy định: “Uỷ ban nhân dân cấp xã phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động của các tổ chức tự quản được thành lập theo quy định của pháp luật trong cộng đồng dân cư trên địa bàn”. Cụ thể hoá vấn đề này, vai trò của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc trước hết thể hiện qua việc tổ chức, xây dựng các Tổ hoà giải, lựa chọn, giới thiệu những người tiêu biểu, đủ tiêu chuẩn là tổ viên Tổ hoà giải để nhân dân bầu. Theo quy định tại Điều 7 của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở và Điều 8 Nghị định số 160/1999/NĐ-CP ngày 18/10/1999 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh hoà giải: Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn phối hợp với các tổ chức thành viên của Mặt trận lựa chọn, giới thiệu để nhân dân bầu tổ viên Tổ hoà giải. Đây là một thủ tục không thể thiếu để đảm bảo tính khách quan, chính xác và đúng đắn trong quyết định lựa chọn thành viên của Tổ hoà giải. Việc lựa chọn, giới thiệu người của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt nam phải được tiến hành trên cơ sở sự đánh giá, nhận xét về năng lực, phẩm chất, thái độ, tinh thần tham gia… trên thực tế của cá nhân đối với tập thể, cụ thể là việc tham gia các hoạt động, phong trào và hiệu quả công việc mà cá nhân đảm nhận tại địa phương; uy tín của cá nhân được lựa chọn; đảm bảo sự thống nhất ý kiến với các tổ chức thành viên… Sau khi đã có kết quả lựa chọn, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiến hành giới thiệu, công bố danh sách các cá nhân tiêu biểu đã được chọn lựa để nhân dân bầu. Việc lựa chọn, giới thiệu người của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc có tác dụng quan trọng đến việc tổ chức và thành lập Tổ hoà giải, tổ viên Tổ hoà giải tạo tiền đề để Tổ hoà giải, tổ viên Tổ hoà giải hoạt động có chất lượng và hiệu quả. với quy định này đã đánh giá cao vai trò là chất xúc tác của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với cách nhìn nhận công tâm và khách quan để giúp nhân dân lựa chọn, bình bầu vào Tổ hoà giải các hoà giải viên đảm đương được công việc, đảm bảo sự thành công cho công tác này.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên còn giúp đỡ, tạo điều kiện về nhân lực (con người), về tinh thần (động viên, khuyến khích, thuyết phục) đối với công tác hoà giải ở cơ sở, đồng thời tham gia hoà giải trực tiếp các vụ việc, các tranh chấp, xích mích trong nhân dân. Thông qua mạng lưới của mình, Mặt trận Tổ quốc đã cung cấp và bổ sung cho các tổ hoà giải lực lượng hoà giải viên đông đảo. Thành viên tham gia Mặt trận Tổ quốc trước hết là những người có tâm huyết, có năng lực và uy tín đối với nhân dân. Bởi vậy, khi tham gia hoạt động hoà giải họ sẽ phát huy hết khả năng cũng như uy tín của mình để vận dụng trong các tình huống hoà giải, mang lại hiệu quả hoà giải thành cao. Mặt khác, là tổ chức của quần chúng nhân dân, ảnh hưởng của Mặt trận Tổ quốc là rất tích cực tới bộ máy chính quyền các cấp, nhất là ở cấp cơ sở. Qua những tác động tích cực của Mặt trận Tổ quốc sẽ hướng chính quyền cơ sở dành nhiều sự quan tâm cũng như đầu tư cho công tác hoà giải, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác này. Thực tế đã cho thấy ở những địa phương, cơ sở thu hút được sự quan tâm của chính quyền sở tại đối với công tác hoà giải, thì nơi đó hoạt động hoà giải thực sự phát huy hiệu quả thiết thực, là cầu nối của tình làng, nghĩa xóm, là sợi dây gắn kết con người, mang lại sự hoà hiếu, hoà thuận trong nhân dân.

Bên cạnh đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam còn phối hợp với các cơ quan hữu quan tham gia hướng dẫn hoạt động hoà giải về nghiệp vụ, về cơ cấu tổ chức… và phối hợp tiến hành sơ kết, tổng kết công tác hoà giải ở cơ sở.

PHÁP LỆNH

CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI SỐ 09/1998/PL-UBTVQH10 NGÀY 25 THÁNG 12 NĂM 1998 VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG HOÀ GIẢI Ở CƠ SỞ

 Để phát huy truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái trong cộng đồng dân cư, nâng cao kết quả giải quyết những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân ở cơ sở, góp phần phòng ngừa và hạn chế các vi phạm pháp luật, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, giảm bớt các vụ, việc phải xét xử tại Toà án;

Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;

Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ hai về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 1998;

Pháp lệnh này quy định về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở.

CHƯƠNG I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

 Điều 1. Hoà giải

Hoà giải ở cơ sở là việc hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên đạt được thoả thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư.

 Điều 2. Hình thức hoà giải

Hoà giải ở cơ sở được thực hiện thông qua hoạt động của Tổ hoà giải hoặc các tổ chức thích hợp khác của nhân dân ở thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư khác phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội và phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân.

Nhà nước tạo điều kiện và khuyến khích hoạt động hoà giải, các hình thức hoà giải ở cộng đồng dân cư.

 Điều 3. Phạm vi hoà giải

1- Việc hoà giải được tiến hành đối với những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong cộng đồng dân cư, bao gồm:

a) Mâu thuẫn, xích mích giữa các cá nhân với nhau;

b) Tranh chấp về quyền, lợi ích phát sinh từ quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình;

c) Những việc vi phạm pháp luật khác mà theo quy định của pháp luật chưa đến mức bị xử lý bằng biện pháp hình sự hoặc biện pháp hành chính.

2- Các vụ, việc sau đây không hoà giải :

a) Tội phạm hình sự, trừ trường hợp mà người bị hại không yêu cầu xử lý về hình sự và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành chính theo quy định của pháp luật;

b) Hành vi vi phạm pháp luật bị xử lý hành chính;

c) Vi phạm pháp luật và các tranh chấp mà theo quy định của pháp luật thì không được hoà giải.

3- Nghiêm cấm mọi hành vi lợi dụng việc hoà giải để trốn tránh xử lý bằng biện pháp hình sự, hành chính.

 Điều 4. Nguyên tắc hoà giải

Việc hoà giải được tiến hành theo các nguyên tắc sau đây:

1- Phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội và phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân;

2- Tôn trọng sự tự nguyện của các bên; không bắt buộc, áp đặt các bên tranh chấp phải tiến hành hoà giải;

3- Khách quan, công minh, có lý, có tình; giữ bí mật thông tin đời tư của các bên tranh chấp; tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng;

4- Kịp thời, chủ động, kiên trì nhằm ngăn chặn vi phạm pháp luật, hạn chế những hậu quả xấu khác có thể xảy ra và đạt được kết quả hoà giải.

 Điều 5. Vai trò của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác, tổ chức kinh tế, cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân trong công tác hoà giải

Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác, tổ chức kinh tế, cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các cơ quan nhà nước hữu quan, động viên nhân dân trong việc xây dựng, củng cố Tổ hoà giải và các tổ chức hoà giải khác của nhân dân trong cộng đồng dân cư; giúp đỡ, tạo điều kiện cho hoạt động hoà giải ở cơ sở; tham gia hoà giải theo quy định của pháp luật.

 Điều 6. Quản lý nhà nước về công tác hoà giải

1- Nội dung quản lý nhà nước về công tác hoà giải bao gồm:

a) Ban hành văn bản pháp luật về tổ chức và hoạt động hoà giải;

b) Hướng dẫn về tổ chức và hoạt động hoà giải;

c) Tổ chức bồi dưỡng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nâng cao nghiệp vụ hoà giải cho người làm công tác hoà giải;

d) Sơ kết, tổng kết công tác hoà giải.

2- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác hoà giải trong phạm vi cả nước.

Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác hoà giải ở cơ sở; chỉ đạo và hướng dẫn Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về công tác hoà giải ở địa phương.

CHƯƠNG II
TỔ HOÀ GIẢI VÀ TỔ VIÊN TỔ HOÀ GIẢI

 Điều 7. Tổ hoà giải

1- Tổ hoà giải ở cơ sở là tổ chức tự quản của nhân dân được thành lập ở thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư khác để thực hiện hoặc tổ chức thực hiện việc hoà giải những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật.

2- Tổ hoà giải có tổ trưởng và các tổ viên do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn phối hợp với các tổ chức thành viên của Mặt trận lựa chọn, giới thiệu để nhân dân bầu và do Uỷ ban nhân dân cùng cấp công nhận.

Chính phủ quy định chi tiết thủ tục bầu, miễn nhiệm tổ trưởng và tổ viên Tổ hoà giải.

 Điều 8. Tổ trưởng Tổ hoà giải

1- Tổ trưởng Tổ hoà giải là người phụ trách Tổ hoà giải, đồng thời tham gia hoạt động hoà giải với tư cách tổ viên.

2- Tổ trưởng Tổ hoà giải có các nhiệm vụ sau đây:

a) Phân công, điều hoà, phối hợp hoạt động của các tổ viên Tổ hoà giải; phối hợp hoạt động với Tổ hoà giải khác khi xét thấy cần thiết;

b) Tổ chức rút kinh nghiệm về công tác hoà giải;

c) Báo cáo Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn về công tác hoà giải.

 Điều 9. Tiêu chuẩn của tổ viên Tổ hoà giải

Tổ viên Tổ hoà giải có các tiêu chuẩn sau đây:

1- Có phẩm chất đạo đức tốt, nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và có uy tín trong nhân dân;

2- Có khả năng thuyết phục, vận động nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật;

3- Tự nguyện tham gia tổ chức hoà giải, có tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình trong công tác hoà giải.

CHƯƠNG III
HOẠT ĐỘNG HOÀ GIẢI

 Điều 10. Tiến hành việc hoà giải

Việc hoà giải được tiến hành trong các trường hợp sau đây:

1- Tổ viên Tổ hoà giải chủ động hoà giải hoặc tổ chức việc hoà giải theo sáng kiến của mình;

2- Theo sáng kiến của tổ trưởng Tổ hoà giải;

3- Theo đề nghị của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác;

4- Theo yêu cầu của một bên hoặc các bên tranh chấp.

 Điều 11. Người tiến hành hoà giải

Việc hoà giải có thể do một hoặc một số tổ viên Tổ hoà giải tiến hành. Trong trường hợp cần thiết, tổ viên Tổ hoà giải có thể mời người ngoài Tổ hoà giải cùng tham gia hoà giải.

 Điều 12. Hoà giải tranh chấp mà các đương sự ở các cụm dân cư khác nhau

Trong trường hợp các bên tranh chấp ở các cụm dân cư có các Tổ hoà giải khác nhau, thì các Tổ hoà giải đó phối hợp để thực hiện việc hoà giải.

 Điều 13. Phương thức hoà giải

Việc hoà giải được tiến hành theo phương thức sau đây:

1- Bằng lời nói;

2- Trong trường hợp các bên có yêu cầu hoặc được các bên đồng ý, việc hoà giải được tổ viên Tổ hoà giải lập biên bản;

3- Tuỳ từng trường hợp cụ thể, tổ viên Tổ hoà giải có thể tiến hành việc hoà giải bằng cách gặp gỡ từng bên hoặc các bên;

4- Sau khi tìm hiểu sự việc, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, tham khảo ý kiến của cá nhân, cơ quan, tổ chức hữu quan, lắng nghe ý kiến của các bên, tổ viên Tổ hoà giải phân tích, thuyết phục các bên đạt được thoả thuận phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội và phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân và tự nguyện thực hiện thoả thuận đó.

 Điều 14. Kết thúc việc hoà giải

Việc hoà giải được kết thúc khi các bên đã đạt được thoả thuận và tự nguyện thực hiện thoả thuận đó.

Tổ viên Tổ hoà giải động viên, thuyết phục các bên thực hiện thoả thuận.

CHƯƠNG IV
KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM

 Điều 15. Khen thưởng

1- Tổ hoà giải và tổ viên Tổ hoà giải có thành tích trong công tác hoà giải thì được khen thưởng.

2- Tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc xây dựng, củng cố tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức hoà giải ở cơ sở, tích cực tham gia hoà giải thì được khen thưởng.

 Điều 16. Xử lý vi phạm

Người nào có hành vi vi phạm Pháp lệnh này và các quy định khác của pháp luật về hoà giải ở cơ sở, thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

CHƯƠNG V
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

 Điều 17. Phạm vi áp dụng

1- Pháp lệnh này áp dụng đối với việc tổ chức và hoạt động của Tổ hoà giải ở cơ sở.

Đối với những Tổ hoà giải ở cơ sở đã được thành lập trước ngày Pháp lệnh này có hiệu lực thì căn cứ vào các quy định của Pháp lệnh này để kiện toàn tổ chức và phát huy vai trò trong hoạt động hoà giải.

2- Các quy định của Pháp lệnh này được áp dụng đối với hoạt động hoà giải của các tổ chức thích hợp khác của nhân dân trong cộng đồng dân cư ở cơ sở.

 Điều 18. Hiệu lực thi hành

Pháp lệnh này có hiệu lực kể từ ngày công bố.

Những quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bãi bỏ.

 Điều 19. Hướng dẫn thi hành Pháp lệnh

Chính phủ phối hợp với Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này.

CHÍNH PHỦ
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********

Số: 160/1999/NĐ-CP

Hà Nội, ngày 18 tháng 10 năm 1999

NGHỊ ĐỊNH

CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 160/1999/NĐ-CP NGÀY 18 THÁNG 10 NĂM 1999 QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU CỦA PHÁP LỆNH VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG HOÀ GIẢI Ở CƠ SỞ

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ Pháp lệnh về Tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở ngày 25 tháng 12 năm 1998;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp sau khi thống nhất ý kiến với ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi áp dụng

1. Nghị định này quy định chi tiết một số điều về Tổ chức và hoạt động hoà giải được quy định tại Pháp lệnh của ủy ban Thường vụ Quốc hội số 09/1998/ PL-UBTVQH ngày 25 tháng 12 năm 1998 về Tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở.

2. Các quy định của Nghị định này không áp dụng đối với hoạt động hoà giải trong tố tụng của Toà án nhân dân và của Trọng tài kinh tế.

Điều 2. Hoà giải ở cơ sở

1. Hoà giải ở cơ sở là việc hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên tranh chấp đạt được thoả thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, củng cố, phát huy những tình cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng dân cư, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư.

2. “Các bên” nói tại Điều 1 Pháp lệnh về Tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở có thể là các thành viên trong một hộ gia đình, các hộ gia đình với nhau hoặc các cá nhân với nhau.

3. Thuật ngữ “cơ sở” theo quy định của Pháp lệnh về Tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở và Nghị định này là thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư khác như các chợ cố định, tụ điểm du lịch, vui chơi giải trí.

Điều 3. Hình thức hoà giải

Hoà giải ở cơ sở được thực hiện thông qua hoạt động của Tổ hoà giải hoặc các tổ chức thích hợp khác của nhân dân ở thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư khác phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội và phong tục tập quán tốt đẹp của nhân dân.

Điều 4. Phạm vi hoà giải

1. Hoà giải được tiến hành đối với việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong cộng đồng dân cư, bao gồm :

a) Mâu thuẫn, xích mích giữa các thành viên trong gia đình do khác nhau về quan niệm sống, lối sống, tính tình không hợp hoặc mâu thuẫn, xích mích giữa các cá nhân trong quan hệ xóm giềng như sử dụng lối đi qua nhà, sử dụng điện, nước sinh hoạt, công trình phụ, giờ giấc sinh hoạt, gây mất vệ sinh chung …;

b) Tranh chấp về quyền, lợi ích phát sinh từ quan hệ dân sự như tranh chấp phát sinh từ các quan hệ về tài sản, quan hệ hợp đồng dân sự, nghĩa vụ dân sự, thừa kế, quyền sử dụng đất;

c) Tranh chấp về quyền, lợi ích phát sinh từ quan hệ hôn nhân gia đình như : thực hiện quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng; quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con; nhận nuôi con nuôi; ly hôn; yêu cầu cấp dưỡng;

d) Tranh chấp phát sinh từ những việc vi phạm pháp luật mà theo quy định của pháp luật, những việc vi phạm đó chưa đến mức bị xử lý bằng biện pháp hình sự hoặc biện pháp hành chính như trộm cắp vặt, đánh chửi nhau gây mất trật tự công cộng, đánh nhau gây thương tích nhẹ, va quệt xe cộ gây thương tích nhẹ.

2. Không hoà giải các vụ việc sau đây :

a) Các tội phạm hình sự.

Riêng đối với các hành vi vi phạm pháp luật hình sự mà người bị hại đã không yêu cầu hoặc rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Viện Kiểm sát hoặc Toà án không tiếp tục tiến hành việc tố tụng và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật đối với các hành vi như : cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác thì có thể hoà giải;

b) Hành vi vi phạm pháp luật bị xử lý vi phạm hành chính bao gồm :

- Hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử lý vi phạm hành chính;

- Hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính như : giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh; quản chế hành chính.

c) Các vi phạm pháp luật và tranh chấp mà theo quy định của pháp luật không được hoà giải quy định tại điểm c khoản 2 Điều 3 của Pháp lệnh về Tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở bao gồm :

Kết hôn trái pháp luật;

Gây thiệt hại đến tài sản nhà nước;

Tranh chấp phát sinh từ giao dịch trái pháp luật;

Tranh chấp về lao động.

Điều 5. Trách nhiệm của Bộ Tư pháp và ủy ban nhân dân các cấp về công tác hoà giải ở cơ sở

1. Bộ Tư pháp có trách nhiệm :

Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động hoà giải trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền;

Hướng dẫn về tổ chức và hoạt động hoà giải trong phạm vi cả nước;

Tổ chức bồi dưỡng và hướng dẫn các Sở Tư pháp tổ chức bồi dưỡng về đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nâng cao nghiệp vụ hoà giải cho người làm công tác hoà giải;

Sơ kết, tổng kết công tác hoà giải của Tổ hoà giải trong phạm vi cả nước.

2. ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về công tác hoà giải theo sự chỉ đạo và hướng dẫn của Bộ Tư pháp.

Căn cứ tình hình cụ thể và khả năng ngân sách của địa phương, ủy ban nhân dân các cấp tạo điều kiện, hỗ trợ về kinh phí cho việc kiện toàn tổ chức, bồi dưỡng nghiệp vụ, sơ kết, tổng kết, thi đua, khen thưởng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động hoà giải ở địa phương.

Điều 6. Trách nhiệm của các cơ quan tư pháp địa phương về công tác hoà giải ở cơ sở

Các cơ quan tư pháp địa phương giúp ủy ban nhân dân cùng cấp về công tác hoà giải, cụ thể :

1. Sở Tư pháp có trách nhiệm :

a) Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về công tác hoà giải trình ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành;

b) Theo sự chỉ đạo của Bộ Tư pháp và ủy ban nhân dân cấp tỉnh, hướng dẫn việc thực hiện quy định của cấp trên về tổ chức và hoạt động hoà giải trong phạm vi địa phương;

c) Tổ chức bồi dưỡng và hướng dẫn Phòng Tư pháp tổ chức bồi dưỡng về đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nâng cao nghiệp vụ hoà giải cho người làm công tác hoà giải;

d) Sơ kết, tổng kết và báo cáo ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Bộ Tư pháp về công tác hoà giải của tổ hoà giải ở địa phương; tổ chức thi đua, khen thưởng công tác hoà giải ở địa phương.

2. Phòng Tư pháp có trách nhiệm :

a) Theo sự chỉ đạo của cơ quan tư pháp cấp trên và ủy ban nhân dân cấp huyện, hướng dẫn các Ban Tư pháp triển khai thực hiện các quy định về công tác hoà giải ở địa phương; đề xuất với ủy ban nhân dân cấp huyện biện pháp kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động hoà giải ở địa phương;

b) Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ hoà giải ở địa phương theo hướng dẫn của cơ quan Tư pháp cấp trên;

c) Sơ kết, tổng kết công tác hoà giải của Tổ hoà giải ở địa phương và báo cáo về công tác hoà giải với ủy ban nhân dân cấp huyện và cơ quan tư pháp cấp trên; tổ chức thi đua, khen thưởng công tác hoà giải của Tổ hoà giải ở địa phương.

3. Ban Tư pháp có trách nhiệm :

a) Thực hiện việc bồi dưỡng nghiệp vụ hoà giải, cung cấp tài liệu nghiệp vụ cho tổ hoà giải ở địa phương theo sự hướng dẫn của cơ quan tư pháp cấp trên;

b) Sơ kết, tổng kết công tác hoà giải của Tổ hoà giải ở địa phương, báo cáo công tác hoà giải với ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và cơ quan tư pháp cấp trên; tổ chức thi đua, khen thưởng công tác hoà giải ở địa phương

Chương 2:

TỔ HOÀ GIẢI VÀ TỔ VIÊN TỔ HOÀ GIẢI

Điều 7. Tổ hoà giải

1. Tổ hoà giải ở cơ sở là tổ chức tự quản của nhân dân được thành lập ở thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư khác để thực hiện hoặc tổ chức thực hiện việc hoà giải.

2. Tổ hoà giải có Tổ trưởng và các tổ viên.

Mỗi Tổ hoà giải có từ 3 tổ viên trở lên. Căn cứ đặc điểm, tình hình cụ thể của cụm dân cư và kết quả cuộc họp thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố, kết quả cuộc họp chủ hộ hoặc kết quả phiếu lấy ý kiến chủ hộ, Chủ tịch ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn quyết định số lượng tổ hoà giải ở địa phương.

Điều 8. Thủ tục bầu tổ viên, tổ trưởng tổ hoà giải

1. ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn phối hợp với các tổ chức thành viên của Mặt trận lựa chọn, giới thiệu người để nhân dân bầu tổ viên tổ hoà giải. Công dân từ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự và có đủ các tiêu chuẩn quy định tại Điều 9 của Pháp lệnh về Tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở đều có quyền đề cử, ứng cử vào danh sách bầu tổ viên tổ hoà giải.

2. Việc bầu tổ viên tổ hoà giải được tổ chức ở thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố và cụm dân cư nơi Tổ hoà giải hoạt động và được tiến hành theo một trong các hình thức sau đây :

Họp nhân dân bàn, biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín;

Họp chủ hộ trong thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố, biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín.

Những người tham dự họp nhân dân hoặc đại diện cho chủ hộ trong cuộc họp chủ hộ phải là người từ 18 tuổi trở lên và có năng lực hành vi dân sự.

Các cuộc họp nói trên được tiến hành khi có ít nhất 2/3 số người trong diện họp tham dự.

c) Trong trường hợp không tổ chức họp được thì phát phiếu lấy ý kiến chủ hộ gia đình.

Người được bầu là tổ viên Tổ hoà giải phải được quá nửa số người tham gia bầu tán thành.

3. Tổ trưởng tổ hoà giải do các tổ viên tổ hoà giải bầu trong số tổ viên của tổ.

4. Trưởng thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố tổ chức và chủ trì các cuộc họp nhân dân, họp chủ hộ để bầu tổ viên Tổ hoà giải hoặc tổ chức việc phát phiếu lấy ý kiến chủ hộ.

Biên bản bầu tổ viên tổ hoà giải trong các cuộc họp nhân dân, họp chủ hộ, biên bản kết quả phiếu lấy ý kiến chủ hộ và biên bản bầu Tổ trưởng Tổ hoà giải được gửi đến Chủ tịch ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xem xét để công nhận thành phần Tổ hoà giải.

Điều 9. Miễn nhiệm tổ viên tổ hoà giải

1. Việc miễn nhiệm tổ viên Tổ hoà giải được thực hiện trong những trường hợp sau đây :

a) Có hành vi vi phạm pháp luật;

b) Có hành vi trái đạo đức xã hội;

c) Thiếu nhiệt tình trong hoạt động hoà giải;

d) Theo nguyện vọng cá nhân xin rút khỏi tổ hoà giải.

2. Căn cứ biên bản họp nhân dân, họp chủ hộ hoặc kết quả phiếu lấy ý kiến chủ hộ về việc miễn nhiệm tổ viên Tổ hoà giải do Trưởng thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố chủ trì, Ban Tư pháp đề nghị bằng văn bản để Chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định việc miễn nhiệm.

Điều 10. Tổ trưởng tổ hoà giải

1. Tổ trưởng Tổ hoà giải là người phụ trách Tổ hoà giải, đồng thời tham gia hoạt động hoà giải với tư cách là tổ viên Tổ hoà giải.

2. Tổ trưởng tổ hoà giải có các quyền hạn, nhiệm vụ sau đây :

a) Phân công, điều hoà, phối hợp hoạt động của tổ viên Tổ hoà giải; phối hợp với các tổ hoà giải trong việc nâng cao nghiệp vụ và trong hoạt động hoà giải tranh chấp liên quan đến địa bàn hoạt động của các Tổ hoà giải đó;

b) Tổ chức các cuộc họp định kỳ và đột xuất để rút kinh nghiệm về công tác hoà giải và đề xuất với ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn về các biện pháp nâng cao hiệu quả của công tác hoà giải; cung cấp tài liệu và các thông tin nâng cao nghiệp vụ hoà giải;

c) Báo cáo định kỳ và đột xuất về công tác hoà giải cho ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp;

Đại diện cho Tổ hoà giải trong quan hệ với Trưởng thôn, xóm, bản, ấp, Tổ trưởng tổ dân phố, cụm dân cư và với các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở cơ sở.

Điều 11. Tổ viên tổ hoà giải

Tổ viên Tổ hoà giải có các quyền hạn, nhiệm vụ sau đây :

1. Hoà giải các vụ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 4 của Nghị định này;

2. Thông qua hoạt động hoà giải, tuyên truyền, vận động nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật;

3. Đối với những tranh chấp không thuộc phạm vi hoà giải có thể ảnh hưởng đến trật tự, an ninh ở địa phương, thì tổ viên Tổ hoà giải phải báo cáo ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn để xem xét và có biện pháp giải quyết.

Chương 3:

HOẠT ĐỘNG HOÀ GIẢI

Điều 12. Tiến hành việc hoà giải

Việc hoà giải do các tổ viên Tổ hoà giải tiến hành hoặc tổ chức tiến hành trong các trường hợp sau đây:

1. Tổ viên Tổ hoà giải chủ động tiến hành hoà giải hoặc mời người ngoài Tổ hoà giải thực hiện việc hoà giải theo sáng kiến của mình trong trường hợp trực tiếp chứng kiến hoặc biết về việc tranh chấp;

2. Theo phân công của Tổ trưởng Tổ hoà giải;

3. Theo đề nghị của các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân;

4. Theo yêu cầu của một hoặc các bên tranh chấp.

Điều 13. Thời gian, địa điểm tiến hành việc hoà giải

1. Việc hoà giải được tiến hành vào thời gian mà các đương sự yêu cầu hoặc theo sáng kiến của tổ viên Tổ hoà giải.

Việc hoà giải có thể được tiến hành theo sáng kiến của tổ viên Tổ hoà giải ngay tại thời điểm xảy ra tranh chấp, nếu tổ viên Tổ hoà giải là người chứng kiến và xét thấy cần thiết phải hoà giải ngay.

2. Tổ viên Tổ hoà giải lựa chọn địa điểm thuận lợi cho việc hoà giải, phù hợp với nguyện vọng của các bên.

Điều 14. Người tiến hành hoà giải

1. Việc hoà giải có thể do một hoặc một số tổ viên Tổ hoà giải tiến hành.

2. Tổ viên Tổ hoà giải có thể mời người ngoài Tổ hoà giải thực hiện việc hoà giải hoặc cùng tham gia hoà giải. Người được mời có thể là người có trình độ pháp lý, có kiến thức xã hội và có uy tín đối với các bên tranh chấp. Trong từng trường hợp cụ thể, người được mời có thể là người thân thích, bạn bè, người hàng xóm của một hoặc các bên, người cao tuổi, người biết rõ nguyên nhân tranh chấp.

3. Tổ viên Tổ hoà giải không tiến hành việc hoà giải nếu họ là người có liên quan đến vụ việc cần được hoà giải hoặc vì những lý do cá nhân khác mà không thể bảo đảm hoà giải được khách quan hoặc không đem lại kết quả.

Trong trường hợp không thể tiếp tục tiến hành hoà giải, tổ viên Tổ hoà giải có trách nhiệm báo cáo kịp thời cho Tổ trưởng và bàn giao công việc cho tổ viên khác được Tổ trưởng phân công.

Điều 15. Hoà giải tranh chấp mà các đương sự ở các cụm dân cư khác nhau

Trong trường hợp các bên tranh chấp ở các cụm dân cư có các tổ hoà giải khác nhau, thì các tổ hoà giải đó phối hợp để thực hiện việc hoà giải. Việc phối hợp hoà giải do :

1. Tổ trưởng hoặc người được Tổ trưởng phân công hoà giải thực hiện.

2. Các tổ viên là người thực hiện việc hoà giải có thể trực tiếp phối hợp với nhau, nhưng phải báo cáo ngay với Tổ trưởng về việc phối hợp thực hiện việc hoà giải.

Điều 16. Kết thúc việc hoà giải

1. Việc hoà giải được kết thúc khi các bên đã đạt được thoả thuận và tự nguyện thực hiện thoả thuận đó.

Trong trường hợp việc thực hiện thỏa thuận có khó khăn, thì tổ viên Tổ hoà giải động viên, thuyết phục các bên thực hiện thoả thuận và có thể đề nghị Trưởng thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố hoặc kiến nghị với ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn tạo điều kiện để các bên tự nguyện thực hiện thoả thuận.

2. Trong trường hợp các bên không thể đạt được thoả thuận và việc tiếp tục hoà giải không thể đạt kết quả, thì tổ viên Tổ hoà giải hướng dẫn cho các bên làm thủ tục cần thiết để đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết. Đối với tranh chấp phức tạp, mâu thuẫn giữa các bên gay gắt, có thể gây hậu quả ảnh hưởng đến an ninh, trật tự trong địa bàn dân cư, thì tổ viên Tổ hoà giải kịp thời báo cáo cho Tổ trưởng Tổ hoà giải để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền có biện pháp giải quyết.

Chương 4:

KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 17. Khen thưởng

1. Tổ hoà giải và tổ viên Tổ hoà giải có thành tích trong công tác hoà giải thì được khen thưởng.

Đối với việc khen thưởng ở xã, phường, thị trấn, Ban Tư pháp phối hợp với Ban công tác mặt trận, lập danh sách người được khen thưởng trên cơ sở bình xét trong các tổ hoà giải để đề nghị Chủ tịch ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn khen thưởng.

Phòng Tư pháp lập danh sách người được khen thưởng ở cấp huyện trình Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện khen thưởng.

Sở Tư pháp báo cáo ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và tổ chức việc khen thưởng ở cấp tỉnh; báo cáo Bộ Tư pháp về công tác thi đua, khen thưởng để tổ chức việc khen thưởng ở cấp Bộ.

2. Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội và cá nhân có thành tích trong việc xây dựng, củng cố tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động hoà giải ở cơ sở thì được khen thưởng.

Điều 18. Xử lý vi phạm

Người nào có hành vi vi phạm Pháp lệnh về Tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở và Nghị định này và các quy định khác của pháp luật về hoà giải ở cơ sở, thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

chương 5:

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 19. Việc công nhận các tổ hoà giải được thành lập trước ngày Pháp lệnh về Tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở có hiệu lực

Các tổ hoà giải được thành lập trước ngày Pháp lệnh về Tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở có hiệu lực đều được ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi Tổ hoà giải đó hoạt động củng cố, kiện toàn, công nhận và cho tiếp tục hoạt động.

Điều 20. Hiệu lực thi hành

Nghị định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày ký.

Bộ Tư pháp có trách nhiệm hướng dẫn thi hành Nghị định này.

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Phan Văn Khải

(Đã ký)

 

PHẦN IV. MỘT SỐ TÌNH HUỐNG CỤ THỂ

 

1.

 Mượn tài sản

 

Bà N và bà T ở cùng xóm. Một buổi sáng bà T sang nhà bà N mượn chiếc xuồng đi câu cá vì đang mùa nước nổi, cá rất nhiều. Bà N đồng ý và chỉ xuống bến sông trước nhà lấy xuồng. Khi lấy xuồng bà T không biết một bên be xuồng sắp bị bung ra (do trước đây con bà N lấy đi và bị đụng, nhưng về nhà không dám nói vì sợ bị mắng nên đã lấy đinh đóng tạm lại).

Sau một buổi câu được rất nhiều cá, bà T bơi xuồng về, gần đến nhà thì gặp bà Y cũng là người cùng xóm đang đi trên bờ. Bà Y hỏi mượn lại chiếc xuồng để đi thăm ruộng và hứa đến chiều sẽ đem lại nhà bà N trả. Bà T đồng ý và giao xuồng lại cho bà Y. Sáng hôm sau, khi xuống xuồng chuẩn bị đi đám bà N phát hiện một bên be xuồng bị bung ra và nước đang tràn vào. Bà N cho rằng bà T đã làm hỏng và yêu cầu bà T phải bồi thường. Bà T cho rằng bà không làm  hư và có thể bà Y đã đụng vào đâu đó khi mượn. Bà Y nói, bà không làm hư và cũng không biết gì về việc chiếc xuồng bị hư. Mâu thuẫn giữa hai người ngày càng lớn.

2.

 Thuê tài sản

Ông A có hai công đất ruộng nhưng do hoàn cảnh neo đơn, thiếu lao động và vốn, không thể tiếp tục canh tác nên ông cho ông B (người cùng xóm) thuê để canh tác trong thời hạn 3 năm và  ông B hứa sẽ trả tiền thuê đất hàng năm cho ông A.

Canh tác được một năm, đến hạn trả tiền thuê nhưng do hoàn cảnh khó khăn ông B không trả và ông A cho gia hạn thêm 6 tháng nữa nhưng ông B vẫn không trả được đồng nào. Cuối cùng ông A yêu cầu ông B hoàn trả lại đất và đòi tiền cho thuê quyền sử dụng đất. Ông B không chịu vì cho rằng thời hạn cho thuê đất chưa hết. Mâu thuẫn xảy ra, hai bên kéo nhau ra tổ hoà giải yêu cầu giải quyết.

Tổ hoà giải đã tìm hiểu sự việc và biết rằng đây là trường hợp cho thuê quyền sử dụng đất nhưng vì cả hai đều không biết các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ người thuê và người cho thuê nên đã không thực hiện đúng và vì thế nảy sinh mâu thuẫn.

3.

 Khai thác lợi ích từ tài sản cầm cố

Ông A cầm chiếc xuồng cho ông B để vay một số tiền là 500.000đ mua phân bón ruộng. Vì chiếc xuồng giá trị nhỏ, hai bên  không lập hợp đồng bằng văn bản mà chỉ hợp đồng trên miệng. Thời hạn cầm xuồng là 2 tháng với lãi suất 1%/tháng.

Gia đình ông B sống bằng nghề đưa khách qua sông. Nhân dịp Tết nguyên đán ông B đem chiếc xuồng làm phương tiện chở khách. Ông A phát hiện và yêu cầu ông B đình chỉ việc sử dụng chiếc xuồng. Ông B không đồng ý vẫn đem xuồng đi chở khách. Hai bên lời qua tiếng lại, anh T là hòa giải viên ở ấp bèn đến phân giải.

4.

 Tranh chấp tài sản thừa kế

Ông A và bà B có hai con chung là L và H. Chị L đã lập gia đình và ở nhà chồng. Anh H hiện còn độc thân, sống chung với bố mẹ. Năm 2001, ông A và bà B qua đời để lại căn nhà trị giá 200.000.000đ. Do bị tai nạn bất ngờ nên ông A và bà B không để lại di chúc. Đầu năm 2002, chị L yêu cầu anh H chia tài sản. Anh H cho rằng anh là người có công nuôi dưỡng cha mẹ nên căn nhà này đương nhiên là của anh, chị L đã có gia đình và ở riêng từ lâu nên không có quyền yêu cầu chia tài sản. Chị L làm đơn gửi Tòa án.

5.

 Những chú vịt lạc đàn

Thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp và xây dựng những cánh đồng 50 triệu đồng/ năm, bà con xã Q tích cực đầu tư vốn, công sức, áp dụng những tiến bộ kỹ thuật, tập trung phát triển chăn nuôi, trồng cây có giá trị kinh tế cao. Kinh tế vườn, ao, chuồng được vận dụng và khai thác có hiệu quả. Gia đình ông K và ông H là những gia đình chăn nuôi vịt nhiều năm. Thu nhập từ chăn nuôi vịt đã đem lại cho họ những khoản thu có giá trị giúp kinh tế gia đình ngày càng khá giả. Tuy vậy, cũng chính từ những đàn vịt ấy đã gây cho họ những rắc rối có lúc tưởng không thể giải quyết được.

Tuy hai gia đình ở cách nhau nhưng vẫn cùng xóm, vì vậy hai đàn vịt của ông K và ông H đã tắm chung một ao, kiếm ăn chung trong một mảnh ruộng. Chúng hòa lẫn vào nhau rồi lại ra thành từng đàn riêng biệt để theo chủ về chuồng.

Hôm đó, cũng như thường ngày, hai đứa trẻ của hai gia đình cùng lùa đàn vịt đi kiếm ăn ngoài đồng. Chiều tà, chúng lùa vịt về, ông K thấy đàn vịt nhà mình có vẻ ít hơn mọi hôm nên đã ngăn đàn vịt ra để đếm và thấy thiếu 20 con. Ông sang nhà ông H đề nghị được xin lại 20 con vịt lạc sang đàn vịt nhà ông H. Lúc đầu ông H cũng có cảm giác hôm nay đàn vịt nhà ông có vẻ đông hơn, nhưng vì vịt hai nhà cùng lứa, cùng màu lông nên không thể phát hiện được, vì thế ông H không đồng ý. Do ông K thiếu bình tĩnh và không khéo léo có những lời qua, tiếng lại không đẹp nên ông H càng bực mình, dẫn đến hai gia đình cãi nhau và sinh ra mâu thuẫn.

 

6.

 Dùng xe trừ nợ

Anh Lê Văn C có hợp đồng cho anh Trần Văn X vay lãi số tiền là 2 triệu đồng để làm kinh tế, mức lãi suất 2%/tháng, thời hạn vay là 3 tháng. Trong quá trình làm ăn, anh X gặp rủi ro nên không có khả năng thanh toán đúng thời hạn. Anh X đề nghị anh C gia hạn hợp đồng. Anh C nhất trí nhưng yêu cầu nâng lãi suất lên 8%/tháng. Anh X vì túng thiếu nên đã nhất trí.

Hai tháng sau khi gia hạn, anh X mượn xe máy của anh trai có việc đi ngang qua nhà anh C. Anh C gọi anh X vào và yêu cầu trả tiền ngay. Do anh X không có tiền trả, anh C đã giữ lại chiếc xe máy trị giá 5 triệu đồng và dọa nếu anh X không thanh toán nợ ngay thì sẽ bán xe máy để trừ vào nợ. Hai bên mâu thuẫn gay gắt.

7.

 Hợp đồng vay tiền

Gia đình bà A và bà M ở cùng xóm. Sáng ra, khi ra đồng thấy ruộng lúa nhà mình đang bị sâu rầy tấn công dữ dội, bà A vội trở về và sang nhà bà M vay 1.000.000 đồng để mua thuốc trừ sâu và phân bón lúa với thoả thuận là hàng tháng bà sẽ trả lãi cho bà M theo lãi suất của ngân hàng.

Mấy tháng liền bà A vẫn đóng lãi đầy đủ, đến khi thu hoạch, do mùa màng thất bát và lúc này lúa lại mất giá nên tiền thu được không đủ chi phí để trang trải nợ nần. Thấy bà A đã bán lúa xong nhưng không đem tiền sang trả, bà M vội sang đòi. Bà A hứa đến mùa lúa sau sẽ trả hết vì hiện nay không có tiền để trả, hơn nữa bà cho rằng bà chỉ hứa trả lãi chứ không nói thời gian trả, vì vậy, khi nào có tiền bà sẽ trả. Bà M không chịu, yêu cầu bà A phải trả hết vì mới bán được lúa. Hai người mâu thuẫn với nhau và cùng nhau ra tổ hoà giải nhờ giải quyết.

8.

 Tranh chấp trong thanh toán hợp đồng dân sự

Ngày 25/01/2004 bà N có hợp đồng bán cho bà H chủ doanh nghiệp tư nhân Thuận Phát 28 tấn gạo với giá 2.570đ/kg độ ẩm 17%. Đến ngày giao gạo, bà N nhờ chủ phương tiện chở gạo đến giao cho bà H. Sau khi nhận hàng, bà H kiểm tra lại thì phát hiện gạo không đủ tiêu chuẩn theo như hợp đồng. Bà H báo lại với chủ phương tiện là gạo không đạt chất lượng, độ ẩm vượt quá 17% như quy định. Tuy thế, bà H vẫn cho nhập kho đủ 28 tấn gạo. Với lý do đó khi thanh toán bà H chỉ tính tiền với giá 2.560đ/kg ( mỗi kg bà H trừ 10 đồng).

Bà N không chấp nhận, làm đơn khiếu nại về việc làm của bà H. Hai bên nảy sinh mâu thuẫn.

9.

 Tranh chấp hợp đồng mua bán

Vào ngày 05/10/2003, bà S đến Uỷ ban nhân dân phường yêu cầu giải quyết về việc chủ hiệu dịch vụ cầm đồ M đã không thực hiện đúng hợp đồng mua bán.

Trong đơn bà S trình bày: vào ngày 30/9/2003, bà có đến dịch vụ cầm đồ M tìm mua một chiếc mô tô để làm phương tiện đi lại cho các con. Do không có khả năng mua xe mới  nên bà phải tìm mua xe mà khách hàng đã cầm cố quá thời hạn không chuộc lại và chủ hiệu dịch vụ đem bán để thu lại vốn. Vì cũng có quen biết với chủ hiệu dịch vụ cầm đồ M nên bà s đến đó tìm mua. Sau khi được bà A, chủ của dịch vụ cầm đồ giới thiệu, bà đã chọn được một chiếc xe wave Trung Quốc với giá 5.000.000 đồng. Hai bên đã thoả thuận bà sẽ đặt cọc trước là 4.000.000 đồng, đến ngày 05/10/2003 sau khi chủ hiệu dịch vụ cầm đồ làm xong thủ tục để sang tên lại chiếc xe cho bà, thì bà sẽ trả lại số tiền còn lại là 1.000.000 đồng cho dịch vụ cầm đồ.

Nhưng đến ngày hẹn thì bà A, chủ dịch vụ cầm đồ đòi bà trả đủ số tiền còn lại là 1.000.000 đồng thì sẽ giao giấy chứng nhận đăng ký xe để bà tự làm giấy sang tên chiếc xe, nếu không đồng ý thì có thể khiếu nại. Vì vậy bà gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân phường để đề nghị giải quyết và đồng thời bà yêu cầu dịch vụ cầm đồ nếu không sang tên bán chiếc xe đó cho bà thì phải bồi thường gấp đôi tiền đặt cọc vì đã vi phạm hợp đồng mua bán theo quy định của Bộ luật dân sự. Như vậy, có nghĩa là chủ hiệu dịch vụ cầm đồ phải trả đủ tiền cọc cho bà là 8.000.000 đồng.

10.

 Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra

Con trâu nhà ông T húc nhau với con trâu nhà ông M làm con trâu nhà ông M lăn xuống vực chết. Ông M bắt ông T đền con trâu với giá 2 triệu đồng, ông T không nhất trí. Hai bên không thỏa thuận được nên xô xát với nhau.

11.

 Tranh chấp lối đi chung

Gia đình bà A và gia đình ông K xảy ra tranh chấp lối đi chung. Nguồn gốc lối đi trên là đường dân sinh, hai gia đình bà A và gia đình ông K đều sử dụng lối đi này. Một thời gian sau, nhà bà A mở lối đi khác. thấy vậy, ông K tự ý xây tường ngăn chiếm lối đi trên. Gia đình bà A không đồng ý, hai bên xảy ra mâu thuẫn. Bà A nhờ tổ hòa giải thôn giải quyết.

Tổ hòa giải trực tiếp hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Sự việc chuyển lên Ban hòa giải xã.

12.

 Tình chú cháu

Tháng 11 năm 2003, ông V thuê ông T  là chú họ chăm sóc một cặp bò mẹ – bò con, hai bên thoả thuận tiền công là 80.000đồng/1 tháng. Nhưng sau 01 tuần bê con đi lạc, lúc chưa tìm thấy con bê, ông T hứa sẽ bồi thường giá trị con bê mà theo hai bên xác định là: 2.100.000 đồng. Sau đó phát hiện con bê chết dưới giếng nước của nhà ông V, thì ông T không chịu bồi thường vì cho rằng: lỗi để bê chết thuộc về ông V, do trong vườn nhà ông V có giếng nước bỏ hoang mà không báo cho ông T biết. Hơn nữa, ông T chỉ đi chăn dắt mẹ con bò vào ban ngày còn về đêm lại nhốt ở chuồng của nhà ông V, tiền công tháng ông cũng chưa nhận. Vì vậy, thoả thuận chăm sóc mẹ con bò coi như chưa thực hiện.

Ông V không chấp nhận ý kiến của ông T mà tiếp tục đòi bồi thường số tiền theo như đã thoả thuận. Hai bên không thống nhất, phải nhờ đến Tổ hoà giải.

13.

 Tình cha con

N (con ông B) kết hôn với chị  K (con ông D). Trong ngày cưới, ông D cho con 2,1 lượng vàng 24k, bên ông B cho 2,2 lượng vàng 24k để con làm vốn. Thời gian sau, anh N và chị K dùng số vàng này để mua đất ruộng được 4,5 công với giá 4,2 lượng vàng 24k. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên anh N, nhưng vợ chồng anh N chị K không được canh tác mà là gia đình ông B được canh tác. Do vậy, vợ chồng anh N chị K yêu cầu xin lại số vàng mà cha mẹ vợ đã cho, đất ruộng thì để lại cho cha mẹ ruột (ông B) tiếp tục canh tác và đồng ý sang tên cho ông B nhưng ông B không đồng ý.

14.

 Mất gà

Gia đình bà Đ và gia đình bà M là hàng xóm của nhau, có nuôi 2 con gà mái rất giống nhau, một trong hai con bị mất không rõ nguyên nhân, còn lại 01 con. Bà Đ cho rằng con còn lại là của gia đình mình và đem bắt nhốt lại, bà M không đồng ý và cho rằng con gà đó là của nhà mình. Kể từ đó hai gia đình tranh chấp nhau con gà.

15.

 Mẹ ơi, con biết lỗi rồi

Anh A có vay của mẹ đẻ mình một số tiền nhưng thời gian quá lâu mà không chịu trả. Sau nhiều lần đòi và thúc giục, mẹ con sinh ra mâu thuẫn. Bà mẹ vì quá giận con nên đã yêu cầu Tổ hoà giải giải quyết buộc anh A phải trả số tiền đã vay.

16.

 Chuyện trẻ con làm mất lòng người lớn

Nhà ông T và ông B cùng chung tường. Ông T có đứa con trai 8 tuổi, ông B có đứa con trai 6 tuổi. Một hôm hai đứa trẻ chơi với nhau gây đánh lộn, con ông B không đánh lại được con ông T nên đã chạy về nhà gọi bố. Vợ ông T thấy vậy chạy ra can thiệp và hai bên dẫn đến xô xát. Sự việc đã được Tổ hoà giải tiến hành hoà giải.

17.

 Xả rác xuống nguồn nước chung

Anh T và anh V cùng lấy nước sinh hoạt chung một con mương dẫn nước từ sông vào. Gia đình anh T ở đầu nguồn nhưng thường xuyên xả rác và nước thải xuống nguồn nước chung. Anh V đã góp ý nhiều lần nhưng T không chịu sửa đổi và còn có những hành vi thiếu văn hoá. Chính vì lẽ đó sự việc đã được đưa ra Tổ hoà giải để giải quyết.

18.

 Lý, tình phải đi đôi

Anh H đang là chủ hộ và chủ sử dụng phần đất thổ cư diện tích 437m2, đã được xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nhưng chính việc này đã làm phát sinh mâu thuẫn giữa anh và chị gái. chị gái anh H đòi được chia phần thừa kế, nhưng anh H không chịu và vì cho rằng nhà, đất cha mẹ để lại, anh là con trai út nên anh được hưởng.

Nhận được đơn của anh H, Tổ hoà giải thấy đây là vụ việc thuộc thẩm quyền của Tổ hoà giải và đã tiến hành lập hồ sơ, xác minh cụ thể.

19.

 Chia đất

Ông B và ông T là chỗ anh em thân tình với nhau. Hai người hùn tiền “mua” 5 công ruộng để sản xuất (mỗi người 50%, đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng chung cho hai ông). Do quy hoạch của Nhà nước mở lộ nên 5 công ruộng trở thành mặt tiền, giá trị tăng lên nhiều lần. Lúc này, hai ông mới tranh chấp với nhau về việc phân chia đất ông nào cũng giành phần mặt tiền. Mâu thuẫn càng ngày càng nghiêm trọng.

20.

 Góp phần xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư

 

Vụ việc phát sinh từ cái rãnh thoát nước giữa tổ 11 và tổ 12 phường M.

Trước đây, nhân dân 2 tổ này sống rất hoà thuận, bình yên đúng nghĩa tình làng, nghĩa xóm. Đất thưa, người ít, cảnh quan môi trường luôn được giữ gìn sạch sẽ. Hai tổ vẫn sử dụng chung cái rãnh thoát nước chảy qua một số hộ trong tổ.

Nay vì đất chật người đông, lối sống bình dị của người dân xưa kia đã bị ảnh hưởng. một số hộ dân khi xây dựng nhà đã cố tình lấn chiếm đất rãnh gây tắc cống thoát nước. ý thức các hộ dân chưa cao, các chất thải của từng hộ gia đình cứ tự tiện thải ra các rãnh chung đó gây ô nhiễm môi trường, nhất là mùa mưa đến gây ngập úng. Chính vì vậy,  những nhà ở gần cái rãnh đó bị ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống sinh hoạt, từ đó phát sinh mâu thuẫn, hàng xóm cãi lộn nhau gây mất đoàn kết, ảnh hưởng đến an ninh trật tự.

21.

 Quyền về lối đi qua bất động sản liền kề

 

Khoảng cuối tháng 3 năm 2003 nhiều cơ quan cấp tỉnh, thị xã và cấp xã đều nhận được một số đơn khiếu kiện giống nhau do tập thể danh sách gồm 18 người đứng tên, có 12 người có chữ ký và 6 người không ký.

Nội dung đơn khiếu nại việc ông P ở ấp X rào đường đi chung có sự hỗ trợ của Trưởng ấp.

Sau khi xác minh rõ nguồn gốc sự  việc, Ban Tư  pháp đã kết hợp với Mặt trận Tổ quốc, Hội cựu chiến binh, một số ban, ngành xã có liên quan trong đó có Ban địa chính, Hội nông dân, Hội phụ nữ… và tổ hoà giải ấp để tiến hành hoà giải.

22.

 Chuyện tranh chấp “bên con, bên cháu”

Tổ hoà giải của ấp G nhận được đơn đề nghị của một phụ nữ trong ấp. Qua tìm hiểu, tổ hoà giải được biết người phụ nữ này đã lấy một người chồng có chứng động kinh, bên nhà chồng cho hai vợ chồng 5 công đất để vợ chồng làm ăn sinh sống. Chẳng bao lâu, khi hai vợ chồng đã có được một đứa con thì chồng chị qua đời sau một cơn động kinh. Dù chồng chết, nhưng chị vẫn thủ tiết thờ chồng, nuôi con và luôn làm tròn nghĩa vụ dâu con nên rất được bên chồng thương mến, xem như con ruột và mối quan hệ ấy, qua mười năm vẫn duy trì tốt đẹp. Một hôm tổ hoà giải nhận được đơn đề nghị của một phụ nữ yêu cầu giúp đỡ vì chi bị gia đình bên chồng đồng ý gã một cho thanh niên xã bên. Chuyện tranh chấp bên con, bên cháu bắt đầu xảy ra từ thời điểm này.

23.

 Nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà trong việc thoát nước mưa

Đó là câu chuyện tranh chấp giữa gia đình nhà ông T và ông Q. Nguyên nhân là do nhà ông Q xây ô văng đua ra ngoài ngõ đến hơn 1 mét, điều này làm nước mưa trên mái nhà ông Q đổ xuống ngõ cản trở sự đi lại của gia đình ông T và các hộ gia đình bên trong. Mâu thuẫn kéo dài, ông Q cứ khăng khăng khẳng định đất móng nhà ông xây đúng với ranh giới còn phần ô văng ông xây đua ra không làm ảnh hưởng gì đến ai. Từ việc kém nhận thức của ông Q nên dẫn đến mâu thuẫn kéo dài.

24.

 Tranh chấp lối đi chung

Do cùng đi chung một ngõ nên khi hai gia đình ông D và T (là hai anh em con chú con bác cùng theo đạo Thiên chúa giáo) có tranh chấp về phần ngõ đi chung. Ông D không cho gia đình ông T đi với lý do phần ngõ trước đây là của gia đình ông. Còn ông T thì cho rằng ngõ là của chung hai nhà nên bây giờ phải chia đôi. Mâu thuẫn giữa hai nhà rất căng thẳng khi mùa vụ vừa qua nhà ông D cố tình không cho ông T phơi rơm rạ, thậm chí đã xảy ra xô xát. Sau đó, ông D chia ra, nhà ông hai phần còn nhà ông T một phần. Gia đình ông T không đồng ý và đòi chia đôi ngõ. Mâu thuẫn gia tăng khi sáng hôm sau phần tường nhà ông D xây bị đổ, ông D cho rằng ông T đã phá đổ tường nên chửi bới và quyết định không cho gia đình ông T đi qua nữa, còn ông T nói rằng mình không xô đổ tường mà do tường tự đổ… ông T làm đơn nhờ chính quyền can thiệp.

25.

 Thay đổi thế chấp bằng bảo lãnh

Ngày 10/2/2001, vợ chồng ông H đã thế chấp quyền sở hữu căn nhà của mình cho vợ chồng ông N để vay 200 triệu đồng. Hợp đồng được Uỷ ban nhân dân huyện X chứng thực. Tháng sau, do thiếu vốn kinh doanh, vợ chồng ông H đã bán căn nhà cho bà L (em vợ ông H) với giá 200 triệu đồng  (mặc dù có người trả giá 250 triệu đồng) với điều kiện bà L sẽ dùng quyền sở hữu căn nhà trên bảo lãnh cho vợ chồng ông H tiếp tục giữ nguyên số tiền 200 triệu đồng vay của ông N. Vợ chồng ông N đồng ý nhận việc bảo lãnh của bà L, thủ tục bảo lãnh được thực hiện tại Uỷ ban nhân dân huyện X.

Đầu năm 2002, hợp đồng đến hạn, vợ chồng ông H làm ăn thua lỗ, không có khả năng thanh toán cho vợ chồng ông N. Vợ chồng ông N đã yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bán đấu giá căn nhà để thanh toán nợ. Bà L khởi kiện vợ chồng ông H. Các bên mâu thuẫn với nhau trầm trọng.

26.

 Không thiện chí giải quyết mâu thuẫn

Trưa đi làm về bà R xuống bếp lấy nước nấu cơm thì thấy trong chum đựng nước của nhà mình đầy đất, bà hỏi các con thì được biết là con nhà bà L người hàng xóm đổ vào.

Khi vừa thấy con nhà bà L đứng bên hè nhà, Bà R bẻ cành cây quất mấy cái vào mông ba đứa trẻ và nói: “ từ sau không được làm như vậy nữa”. Đi làm về thấy con khóc, bà L hỏi và được biết là bị bà R đánh. Trong lúc bực tức bà L nhìn thấy bà R đang gánh nước ở giếng chung của thôn, bà liền hỏi: “tại sao chị đánh con tôi?” và giằng đòn gánh đánh vào người bà R. Sau khi bị đánh, bà R đã đến bệnh viện để chụp phim, mua thuốc và thuê xe ôm hết 80.000đồng. bà R yêu cầu bà L phải thanh toán số tiền 80.000đồng và 200.000đồng tiền bồi dưỡng sức khoẻ cho mình, nhưng bà L không đồng ý. Do yêu cầu không được đáp ứng, bà R làm đơn gửi đến Uỷ ban nhân dân xã, Uỷ ban nhân dân chỉ đạo Ban Tư pháp xã chuyển đơn về Tổ hoà giải thôn 8 để giải quyết lần đầu. Vì không hài lòng cách ăn nói tục tĩu của bà L và sợ làm mất lòng tin một trong hai bên nên Tổ hoà giải thôn đã chậm tiến hành các bước cần thiết để tiến hành một cuộc hoà giải.

Yêu cầu của mình chưa được giải quyết, lại liên tục bị bà L đe dọa nên bà R lại tiếp tục gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân xã, Uỷ ban nhân dân xã giao cho Tổ hoà giải cấp xã tiến hành hoà giải.

27.

 Tranh chấp quyền sử dụng đất

Ông E thoả thuận sang nhượng cho bà T hai khu đất: phần đất vườn và đất bãi bồi tọa lạc tại BH3 và MK (là phần bãi bồi thì hai bên không tranh chấp vì phần đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Sự việc tranh chấp đất vườn diễn ra như sau:

Hai bên thoả thuận tự đo ngang 23 mét, dài 30 mét và tính theo diện tích khoảng chừng 690 m2, sau đó hai người làm giấy thỏa thuận (viết tay) với diện tích trên. Bà T ứng trước cho ông E 10.000.000đ. Sau đó, hai bên đến địa chính xã để làm hợp đồng sang nhượng và đã ký tên vào toàn bộ hồ sơ nhưng trong hợp đồng không đề rõ diện tích mà chỉ thoả thuận với nhau và tiến hành cắm mốc giới theo thực tế khu đất, đợi khi thuê đo đạc xong thì cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bên mua.

Sau khi hoàn thành thủ tục đo đạc, bà T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 865,40 m2, chứ không như diện tích đã được thể hiện trong giấy viết tay trước đây là 690m2. Nên ông E không chấp nhận, tranh chấp xảy ra.

28.

 Mê đánh đề, vợ chồng mâu thuẫn

Anh H và chị T đã lấy nhau được hơn 20 năm, hiện có 2 con đang tuổi đi học. Cuộc sống của gia đình anh chị thật vất vả, hàng ngày chị tần tảo buôn bán mớ rau kiếm sống, anh làm nghề sửa chữa xe đạp.

Gần đây, anh H bỏ bê công việc lao vào nạn đánh số đề, rượu chè bê tha. Chị T khuyên nhủ, thuyết phục chồng không được. Hai vợ chồng thường to tiếng, xô xát, gây mất trật tự khu phố.

Nhận được thông tin trên, Tổ hòa giải sẽ giải quyết như thế nào?.

29.

 Giỏi việc nước nhưng phải đảm việc nhà

Chị H làm công tác xã hội thường xuyên đi làm về muộn, ít có thời gian chăm sóc gia đình và các con. Anh T, chồng chị H rất khó chịu, thường mắng chửi vợ. Chị H lại nóng tính, hai vợ chồng thường xuyên cãi nhau ảnh hưởng đến an ninh, trật tự thôn xóm.

30.

 Ghen với “quá khứ” của chồng

Anh A và chị H kết hôn được 10 năm, có một con chung, gia đình sống rất hạnh phúc. Một hôm, trong lúc dọn dẹp tủ sách của chồng, tình cờ chị thấy một tấm ảnh của anh A chụp với người yêu cũ và những bức thư tình với lời lẽ yêu thương thắm thiết. Không nén được cơn nóng giận, chị H đã nặng lời với anh A và yêu cầu anh xé tấm ảnh đó trước mặt chị. Anh A không làm theo yêu cầu của chị, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng phát sinh. Kể từ đó, anh A thường xuyên vắng nhà, chị H cho rằng anh A không chung thủy nên đã làm đơn xin ly hôn (mặc dù anh A không đồng ý). Vụ việc được đưa đến Tổ hòa giải.

31.

 Mẹ chồng, nàng dâu

Bà D đã nhiều năm mâu thuẫn, xích mích với con dâu, ban đầu chỉ là những mâu thuẫn nhỏ, sau ngày càng gay gắt, bà D đã đuổi con dâu ra khỏi nhà…

Biết được mâu thuẫn của gia đình bà D, Tổ hòa giải xóm 6 đã cử đồng chí Chi hội trưởng Chi hội phụ nữ, tổ viên Tổ hòa giải đến nắm tình hình, tiến hành hòa giải vụ việc.

32.

 Hoà giải kịp thời, khách quan, có tình và có lý

Anh H và chị T kết hôn năm 1984, đến nay đã có hai con, một trai, một gái. Những năm đầu, cuộc sống gia đình anh chị rất đầm ấm, hạnh phúc. Thế nhưng, hai năm trở lại đây anh H sinh ra đổ đốn thích trăng hoa, chơi bời, thậm chí có hôm mải chơi đi cả đêm không về, không quan tâm đến gia đình. Thấy chồng mình thay đổi, chị T rất buồn, hai người thường cãi nhau, lời ra tiếng vào chị T nổi nóng, dẫn đến xô xát giữa hai anh chị và chị T đã làm đơn xin ly hôn.

33.

 Đòi ly hôn chỉ vì sinh con một bề

Vợ chồng anh H và chị T sinh toàn con gái. Bố mẹ anh H chỉ có anh là con trai duy nhất trong gia đình, nên anh H buộc chị T phải sinh thêm để có con trai nối dõi tông đường. Thêm vào đó, anh H lại được sự ủng hộ của cha mẹ mình nên càng quyết tâm cao.

Chị T không đồng ý với chồng và cha mẹ chồng nên mâu thuẫn trong gia đình ngày càng căng thẳng, nhiều lần xô xát, cãi cọ … chị T đành quyết định xin ly hôn để cho anh H đi lấy người khác sinh con trai nối dõi tông đường.

34.

 Đòi ly hôn vì vợ ngoại tình

Anh A và chị B sống với nhau và có con chung nhưng chưa đăng ký kết hôn. Vừa qua, mọi người trong thôn phát hiện chị B, đi xem văn nghệ đã lén lút quan hệ với anh H, cùng thôn. Anh A chờ chị B về đã đánh chửi vợ thậm tệ sau đó làm đơn xin ly hôn.

35.

 Người vợ bạo lực

Anh M và chị T là hai vợ chồng, anh M làm nghề thợ mộc, chị T buôn bán nhỏ ở chợ. Do kinh tế gia đình eo hẹp, chị T lại nghi chồng mình cặp bồ với bà chủ nhà đang thuê anh đóng đồ gỗ nên mâu thuẫn giữa hai vợ chồng thường xuyên xảy ra. Một hôm, chị theo dõi chồng, bắt gặp anh mặc quần đùi đang đóng mộc còn chị chủ nhà thì mặc bộ đồ ngủ ngồi cạnh đấy, máu ghen nổi lên, chị túm tóc đánh anh lôi về nhà. Nhiều lần chị T cầm dao chém chồng chảy máu, những lần như thế anh thường cố nhịn cho qua chuyện rồi đến trình báo với chính quyền, duy nhất có một lần anh đã tát lại chị.

36.

 Cờ bạc là bác thằng bần, cửa nhà tan vỡ vợ con chia lìa

Ông V và bà X kết hôn với nhau đã được trên 20 năm, có hai con chung, một trai, một gái. Các con ông đều được học hành tử tế, gia đình sống yên ấm, hoà thuận. Thế nhưng cũng tất cả tại ông, do vi phạm pháp luật ông phải đi cải tạo 6 năm, một mình bà ở nhà thay chồng lặn lội, tần tảo nuôi con ăn học, dạy chúng nên người, chung thuỷ, chờ chồng hết hạn cải tạo trở về cùng gia đình sum họp. Ngày bà cùng các con mong đợi đã đến, ông được mãn hạn tù trở về với gia đình, được một thời gian ngắn sau, do máu mê cờ bạc, rượu chè bê tha, vợ con khuyên bảo nhiều lần ông không nghe, thậm chí ông còn bị chính quyền, công an nhắc nhở, răn đe và yêu cầu ký cam kết. Nhưng ông vẫn chứng nào tật ấy, ngày càng lấn sâu vào con đường cờ bạc, bỏ bê công việc gia đình… mâu thuẫn gia đình phát sinh, hạnh phúc gia đình có nguy cơ tan vỡ.

37.

 Đòi bồi thường thiệt hại trong tình thế cấp thiết

.

Con ông An 15 tuổi, nghịch gây cháy đống rơm, sợ lửa cháy lan rộng sang các nhà khác, ông Ba vội lấy chiếc chăn của Bà Lan đang phơi gần đó nhúng nước xông vào dập tắt đám cháy. Bà Lan đòi ông Ba đền cái chăn, ông Ba bảo bà Lan bắt ông An đền, ông An cho rằng mình không có trách nhiệm phải đền. Mâu thuẩn ngày càng gay gắt giữa ba gia đình. Anh chị hày hoà giải vụ việc trên.

38.

 Hạn chế quyền trổ cửa

 Gia đình ông Bá và bà Huê là hàng xóm chung một bức tường. Mới đây, ông Bá sửa lại nhà, nâng thêm một tầng và mở cửa sổ trông thẳng sang nhà bà Huê gây bất tiện cho sinh hoạt hằng ngày của gia đình. Các con của Bà Huê có ý kiến yêu cầu gia đình ông Bá đóng cửa sổ lại nhưng ông Bá không thực hiện. Nhân lúc gia đình ông Bá đi vắng các con bà Huê cho người đóng bít cửa sổ lại. Con ông Bá đi làm về, bực mình xông sang nhà bà Huê định hành hung. Hãy hoà giải vụ việc trên

39.

 Tranh chấp gia súc bị thất lạc

 Nhà Bà Mai có một con bò cái đang mang thai, do sơ suất trong chăn dắt nên con bà đã để lạc mất con bò. Ông An ở thôn bên cạnh bắt được bò và nuôi được gần ba tháng, trong thời gian này con bò đã sinh và sinh đôi. Nghe tin ông An bắt được con bò của mình, bà Mai tới xin lại con bò Mẹ và hai con bò con. Ông An không chịu mà cho rằng vì ông đã bắt được 3 tháng nên cả bò mẹ lẫn hai con bò con đều thuộc sở hữu của ông. Mâu thuẩn phát sinh và bà Mai nhờ đến tổ hoà giải.

40.

 Quyền sử dụng chung bất động sản

 Gia đình anh Hà và gia đình chị Thanh được sử dụng chung một khoảng sân. Gia đình anh Hà nhiều khách, thường để xe lấn chiếm gần hết sân nên việc đi lại rất khó khăn. Chị Thanh nhắc nhở nhiều lần nhưng gia đình anh Hà chưa khắc phục. Hai nhà thường to tiếng làm mất trật tự xung quanh. Hãy hoà giải vụ việc trên.

41.

 Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra

Cháu Hùng con chị Minh bị chó nhà chị Liên cắn. Chị Minh tức giận chửi bới và đòi chị Liên phải trả tiền đưa cháu Hùng đi bệnh viện. Chị Liên cho rằng tại cháu Hùng trêu chọc con chó đẻ nên chị không chịu trách nhiệm. Quan hệ giưũa hai gia đình trở nên căng thẳng. Hãy hoà giải vụ việc trên.

42.

 Chuyện trẻ con làm mắc lòng người lớn

Cháu Quân 14 tuổi, đèo con chị Mây là cháu Duy 8 tuổi đi chơi bằng xe đạp. Chẳng may, ngã xe làm cháu Duy bị gãy tay. Chị Mây xót con, mắng cháu Quân tự ý đèo cháu Duy không xin phép người lớn và yêu cầu chị Phương (mẹ cháu Quân) phải bồi thường. Chị Phương giận cá chém thớt chửi mắng cháu Quân nhưng có ý mỉa mai gay gắt với chị Mây. Quan hệ hai gia đình bỗng trở nên mâu thuẩn. Ông bà sẽ hoà giải vụ việc trên như thế nào?

43.

 Quyền  về tưới nước, tiêu nước trong canh tác

 

Ruộng lúa nhà ông Tân ở trong, ruộng lúa nhà ông Phú ở ngoài gần mương nước. ông Tân muốn dẫn nước vào ruộng nhà mình phải qua nhà ông Phú. Do có xích mích từ trước nên ông Phú không cho ông Tân dẫn nước qua ruộng nhà mình, mâu thuẩn giưã hai người ngày càng căng thẳng. Hãy hoà giả vụ việc trên.

44.

 Quyền sở hữu đối với mốc giới ngăn cách giữa các bất động sản

Nhà ông A trồng một cây mít để làm mốc giới giữa nhà ông và nhà ông B, được ông B đồng ý đã được 11 năm. Khi cây mít ra quả hai nhà đều hưởng chung. Nay ông B muốn trổ một đường đi khác, nhưng vướng cây mít, ông B yêu cầu ông A chặt cây mít nhưng ông A không đồng ý. Hai bên xảy ra mâu thuẩn. Vậy phải giải quyết trường hợp trên như thế nào?

45.

 Xoài ngọt- đòn đau và mâu thuẩn

Nhà ông Cường có một cây xoài trĩu quả. Cháu An ở nhà bên cạnh hay qua hái trộm xoài. Một lần, ông Cường bắt gặp và đánh cháu An hai bạt tai thật mạnh làm đỏ cả hai bên má cháu An. Tức giận, chờ cho nhà ông Cường đi vắng, cháu An đem rựa qua đốn ngã cây xoài. Ông Cường về bắt ba cháu An phải bồi thường cho mình. Ba cháu An không chịu vì cho rằng vì ông Cường đã đánh cháu An nên cháu An đốn cây lại là huề; hơn nữa, cháu An đốn cây nên ông không có trách nhiệm gì hết, nếu muốn bồi thường cứ kêu cháu An bồi thường. Mâu thuẫn giữa hai bên phát sinh và ông Cường đòi kiện ra toà.

46.

 Nghĩa vụ của chủ sở hữu trong việc thoát nước mưa

Anh C và anh T là hàng xóm láng giềng. Máng xối nhà anh C hướng sang nhà anh T. Khi trời mưa theo đường dẫn nước chảy từ mái nhà anh C sang hiên nhà anh T gây bất tiện trong sinh hoạt. Anh T nhiều lần phản đối, hai bên to tiếng với nhau gây ồn ào mất trật tự.

47.

Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra

Trâu nhà bà Nụ do lơ là chăn dắt đã ăn và dẫm nát 1/2 ruộng lúa nhà bà Na. Xót của bà Na đã dắt trâu nhà bà Nụ về cột lại ở sân nhà mình và đòi bà Nụ phải bồi thường mới cho dắt trân về. Gia đình bà Nụ kéo đến nhà bà Na la lối đòi lại. Hai bên xảy ra xô xát.

48.

Quyền về lối đi qua bất động sản liền kề

 

 

Chị Mai mua nhà phía sau vườn nhà bà Mơ. Do không thoả thuận rõ ràng, bà Mơ không cho chị Mai đi qua phần đất của mình để ra đường công cộng mà rào lại. Chị Mai chửi bới lăng mạ, chặt đổ rào và một số cây ăn quả nhà bà Mơ. Hai bên mâu thuẩn gây mất trật tự. Hãy hoà giải vụ việc trên.

49.

Cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ

 

Anh T và chi V sau một thời gian tìm hiểu, hai anh chị đã quyết định xin phép gia đình hai bên cho họ kết hôn với nhau. Song do trước đây, bà C là mẹ anh T có mâu thuẩn với gia đình chị V nên bà C cương quyết không cho anh T cưới chị V. Mặc dù bị mẹ ngăn cản nhưng họ vẫn quyết tâm đến với nhau, hai anh chị đã đến UBND xã xin đăng ký kết hôn. Bà C biết chuyện đã đến UBND xã nơi hai anh chị đang đăng ký kết hôn, mắng chửi chị V và doạ sẽ chết nếu anh T cương quyết đăng ký kết hôn với chị V. Anh T đã phải hoãn ngày đăng ký kết hôn lại và đến nhờ Tổ hoà giải giúp đỡ thuyết phục mẹ.

About these ads

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 32 other followers

%d bloggers like this: